Chương I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ SINH KẾ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ 1. Các khái niệm về sinh kế và sinh kế bền vững 1. Khái niệm về sinh kế Ý tưởng sinh kế được đề cập tới trong các tác phẩm nghiên cứu của R.
Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett, và Reardon, Morison, Dorward [8]. Có nhiều cách định nghĩa và tiếp cận khác nhau về sinh kế, tuy nhiên, có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Về căn bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của hộ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những mối quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng. Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.
Ellis cho rằng một số sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân và mỗi nông hộ [8]. Theo tổ chức phát triển toàn cầu vương quốc Anh (DFID) định nghĩa: sinh kế là tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ [21]. Rõ ràng có nhiều khái niệm khác nhau về sinh kế nhưng chúng có đặc điểm chung là việc sử dụng các nguồn lực (nguồn vốn) của cá nhân hay cộng đồng nhằm xác định phương cách kiếm sống của họ. 8 Formatted: Space Before: 6 pt 1.
Khung sinh kế bền vững Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên [8]. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai- trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai [15]. Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm; Dễ tiếp cận; Có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, Tổng thể, Thực hiện ở nhiều cấp, Trong mối quan hệ với đối tác, Bền vững và Năng động. Mục tiêu sinh kế bền vững hướng đến một tầm rộng lớn hơn, chú trọng vào con người và hiểu tầm quan trọng của các quy trình và cấu trúc trong quá trình xác định cách mà các nguồn lực, tài sản được tạo ra và sử dụng [15].
Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao chất lượng xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn luôn đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực. Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội sinh kế. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong bối cảnh cụ thể.
Tổ chức phát triển toàn cầu của vương quốc Anh (DFID) đã đưa ra khung sinh kế bền vững như sau: (Hình 1. 9 TÀI SẢN SINH KẾ Cơ cấu và tiến trình thực hiện KẾT QUẢ SINH Con người Phạm vi H KẾ ẠT ẰM ỢC ĐƯ Đ NH rủi ro Cơ cấu Quá trình - Tăng thu nhập - Các cú sốc tiến hành - Tăng sự ổn định Xã hội Tự nhiên Ảnh hưởng - Các cấp - Luật lệ - Giảm sự rũi ro S N CHIẾNLƯỢC - Các khuynh và khả năng chính quyền - Chính sách - Nâng cao an SINH KẾ hướng tiếp cận - Đơn vị tư nhân - Văn hóa toàn lương thực -Thể chế tổ chức - Sử dụng bền vững Vật chất Tài chính - Tính thời vụ P F hơn các nguồn P lực tự nhiên Ký hiệu H= Nguồn lực con người F= Nguồn lực tài chính N= Nguồn lực tự nhiên P= Nguồn lực vật chất S= Nguồn lực xã hội (Nguồn : DFID 2001) Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững 10 1. Thành phần cơ bản bản của khung sinh kế Thành phần cơ bản của khung phân tích sinh kế gồm tài sản sinh kế (các nguồn vốn sinh kế), cơ cấu và tiến trình thực hiện (tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài), chiến lược sinh kế và kết quả của chiến lược sinh kế đó và cuối cùng là phạm vi rũi ro. Tài sản sinh kế: Là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển sinh kế của họ.
Nguồn vốn hay tài sản sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên. - Nguồn lực con người: Đây là nhân tố quan trọng nhất. Nguồn lực con người thể hiện kĩ năng, kiến thức, năng lực để lao động, và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình. Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, mối quan hệ họ hàng, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, khả năng ngôn ngữ, kĩ năng quản lý tài chính, khả năng kinh doanh, v.
- Nguồn lực xã hội: Là các tiềm lực xã hội mà con người vạch ra nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình. Các mục tiêu này được phát triển thông qua các mạng lưới và các mối liên kết với nhau, tính đoàn hội của các nhóm chính thức; và mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi, và ảnh hưởng lẫn nhau. - Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng.(trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ).
11 - Nguồn lực vật chất: Đề cập đến tài sản do con người tạo nên và các dạng tài sản vật chất. Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và công cụ sản xuất hàng hóa cần thiết để hỗ trợ sinh kế. Cơ sở hạ tầng được hiểu là một loại hàng hóa công cộng sử dụng mà không cần trả phí trực tiếp, bao gồm những thay đổi trong môi trường vật chất mà chúng giúp con người đáp ứng nhu cầu cơ bản của mình và đem lại nhiều lợi ích hơn. Công cụ sản xuất hàng hóa là những công cụ và thiết bị mà con người sử dụng để hoạt động mang lại năng suất cao hơn.
Các công cụ đó có thể do một cá nhân hay nhóm người sở hữu, cũng có thể thuê hoặc mua, phổ biến là đối với các thiết bị phức tạp. Cơ sở hạ tầng: đường giao thông công cộng và cầu cống, nhà máy điện, nhà máy nước, các nguồn cung cấp thông tin (báo chí, vi tính, và các tài liệu đọc/nghe khác), v.v… Các công cụ sản xuất hàng hóa: xe tải/máy thông khí/máy phát điện/ v.v… do các cơ sở tư nhân sản xuất. - Nguồn lực tài chính: Đây là yếu tố trung gian cho sự trao đổi có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng thành công các yếu tố/tài sản khác. Nguồn tài chính nghĩa là các nguồn lực tài chính (chủ yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương) mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình.
Có hai nguồn tài chính cơ bản, đó là nguồn vốn sẵn có và nguồn vốn vào thường xuyên. Nguồn sẵn có: tiết kiệm, tiền gửi ngân hàng, vật nuôi, khoản vay tín dụng, v.v… Nguồn vốn vào thường xuyên: trợ cấp, các khoản tiền chuyển nhượng từ nhà nước hoặc các khoản tiền gửi. Cơ cấu và tiến trình thực hiện: Đây là yếu tố thể chế, tổ chức, chính sách và luật pháp mà nó xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau. Những yếu tố trên có tác động thúc đẩy hay hạn chế đến các chiến lược sinh kế.
Chính vì thế sự hiểu biết các cấu trúc, tiến trình có thể xác định được những cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc. Chiến lược sinh kế: Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để kiếm sống. Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình [15]. Để đạt được các mục tiêu sinh kế, sinh kế phải được xây dựng từ một số lựa chọn khác nhau dựa trên các nguồn vốn và tiến trình thay đổi cấu trúc của họ.
Chiến lược sinh kế bao gồm các hoạt động như là phương tiện để mưu sinh của các nông hộ [6].