ĐẶT VẤN ĐỀ Keo tai tƣợng (Acacia mangium Wild.) đƣợc trồng chủ yếu ở nhiều tại tỉnh Yên Bái với mục tiêu cung cấp gỗ lớn, có thể dùng để đóng đồ gia dụng, ngoài ra còn dùng cho nguyên liệu giấy, sản xuất ván lạng. Theo báo cáo số 33/BC-SNN-KL ngày 30/01/2019 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái về báo cáo số liệu hiện trạng rừng và đất rừng của tỉnh Yên ái năm 2018 thì tính đến hết tháng 12 năm 2015 diện tích Keo tai tƣợng, keo lai và Keo lá tràm trên địa bàn tỉnh là 65. Tuy nhiên, hiện nay rừng trồng Keo tai tƣợng và Keo lai đang phải đối mặt với sự tấn công của sâu hại, trong đó gây hại nặng là loài côn trùng mới giống với mọt đục, hại thân cây sống và làm cho cây Keo bị héo, chiếm tỷ lệ bị hại phổ biến từ 10% đến 25% tại huyện Yên Bình và Thành phố Yên Bái, chúng làm ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của cây, từ đó dẫn đến ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng, hiệu quả kinh doanh của rừng Keo và làm giảm thu nhập cho ngƣời trồng rừng. Theo Văn bản số 801/SNN-KH ngày 21/9/2016 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái về việc phát hiện loài côn trùng mới gây hại trên cây Keo, thì Loài sâu hại này xuất hiện và gây hại là một phần nguyên nhân do sự biến đổi của khí hậu những năm gần đây, vì từ trƣớc đến nay chúng chƣa từng xuất hiện và gây hại cây Keo.
Tuy nhiên, hiện nay chúng có diễn biến phức tạp, phát triển nhanh trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là huyện Yên Bình, nên việc phòng trừ gặp rất nhiều khó khăn, vì chƣa xác định đƣợc tên loài, chƣa nghiên cứu đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh, phát triển và các biện pháp phòng trừ hợp lý. Vì vậy, để phòng trừ loài sâu hại chính trên cây Keo Tai tƣợng cần nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại, từ đó làm cơ sở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cho biện pháp phòng trừ. Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây Keo tai tượng tại huyện Yên Bình” là rất cần thiết trên địa bàn trong tình hình hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về sâu hại Keo tai tƣợng ở trên thế giới 1. Thành phần loài sâu hại Ở Indonesia nghiên cứu về sâu hại keo từ những năm 1934 -1938 đã có trận dịch lớn trên cây keo đó là 2 loài sâu Kèn (Eumeta variegata và E. Claria) đã gây hại hơn 800ha. Tại đảo Sumatra ở rừng keo đã phát hiện 8 loài sâu gây hại, trong đó có loài mối (Coptotermes cutvigrathes) hại rễ rừng trồng 1 năm tuổi, có lệ cây chết từ 10 - 50% (Wylie, 1998)[69].
Tại elwan ở phía ắc Sumatra có 500 - 1,000 ha keo bị sâu đo (Aichaea janata) hại mạnh; vào năm 1977 ở trên đảo Java có 3 loài sâu gây hại keo là loài bọ cánh cứng (Agrilus kalshoveni), loài sâu đục nõn (Hypsipyla robusta) và loài xén tóc (Xystrocera festiva); năm 1999 loài mối (Coptotermes curvignathus) đã tấn công gây hại Keo tai tƣợng làm thiệt hại từ 10-15% sản lƣợng gỗ. Tại Ấn Độ, Sigh và đồng tác giả (1987)[61], cho biết có 58 loài côn trùng hại keo thuộc 5 bộ trong đó bộ cánh cứng Coleoptera có 5 loài, bộ cánh đều Isoptera có 5 loài, bộ cánh nửa Hemiptera có 15 loài, bộ cánh thắng Orthoptera có 4 loài và bộ cánh vẩy Lepidoptera có 15 loài. Trong số 58 loài này có 6 loài gây hại nghiêm trọng là: Xén tóc (Celosterma scabrator), sâu hại lá (Eumera cramerii), sâu hại lá (Ophiusa lanata), ve sầu sừng (Oxyrachis tarandus), bọ cánh cứng (Caryedon serratus) và xén tóc (Batocera rufomculata). Theo Singh Rathore (1991) đã điều tra phát hiện loài sâu hại lá (Phalera grotei) thuộc họ Notodontidae, bộ Lepidoptera gây hại các loài cây thuộc chi Acacia và Albizia.
Theo kết quả nghiên điều tra của Hutacharern (1993)[36], đã liệt kê một số loài côn trùng gây hại nghiêm trọng đối với Keo tai tƣợng gồm có loài sâu đục thân cành (Zeuzera coffeae), loài mối hại rễ (Coptotermes LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 curvignathus); một số loài sâu hại gỗ nhƣ loài mối (Coptotermes sp.) và loài xén tóc (Xystocera sp.), các loài này phân bố ở Sabah, Malaysia. Kết quả điều tra nghiên cứu của Wylie (1998)[69], đã liệt kê đƣợc 20 loài côn trùng gây hại Keo tai tƣợng (Acacia mangium) ở một số nƣớc, trong đó bao gồm nhóm loài sâu hại gỗ nhƣ mối đất (Coptotemes curvignathus) gây hại khá phổ biến ở Indonesia, Malaysia và Thái Lan; nhóm loài ăn lá cây nhƣ sâu xanh (Archips micacaena) gây hại ở Thái Lan, sâu túi (Pteroma glagiophlebs) gây hại ở Indonesia, Malaysia, Ấn Độ và Philippines, loài ngài độc (Dasychira mendosa), loài bƣớm vàng (Eurema spp.), sâu da láng (Spodoptera litura), câu cấu xanh (Hypomeces squamosus) và châu chấu (Valanga nigricornis) gây hại cho nhiều loài keo ở Malaysia, Thái Lan và Ấn Độ. Loài châu chấu (Valanga nigricornis) gây hại khá phổ biến ở rừng trồng Keo tai tƣợng và các loài keo khác ở Malaysia, Indonesia, Úc…(Hutacharern, 1993)[36]. Ross Wylie và đồng tác giả (1997)[68], xác định các loài sâu hại chính trên keo ở vùng Đông ắc Á và phía Nam Úc gồm các loài sâu ăn lá (Ochrogaster lunifer) thuộc họ Thaumetopoeidae, bộ Lepidoptera; loài sâu đục thân (Penthea pardalis) và loài xén tóc đục vỏ thân cành (Platyomopsis albocincta) thuộc họ Cerambycidae, bộ Coleoptera; loài sâu đục cành, ngọn (Cryptophlebia sp.) thuộc họ Tortricidae, bộ Lepidoptera.
Tại Indonesia bao gồm các loài mối (Coptotermes curvignathuc), thuộc họ Rhinotemitidae, bộ Isoptera, loài mọt đục thân (Xylosandrus sp.), thuộc họ Scolytidae, bộ Coleoptera, loài sâu kèn (Pteroma plagiophleps), thuộc họ Psychidae, bộ Lepidoptera, loài châu chấu voi (Vanlanga nigricornis) và loài châu chấu (Locusta sp.), thuộc họ Acrididae, bộ Orthoptera, loài bọ xít muỗi (Helopeltis theivora), thuộc họ Miridae và bộ Hemiptera. Tại Malaysia bao gồm các loài mối (Coptotermes curvignathus), thuộc họ Rhinotemitidae, bộ Isoptera, loài mối (Microcerotermes dubius) và loài mối (Nasutitermes matangensis), thuộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 họ Termitidae, bộ Isoptera, loài mọt đục thân (Xylosandrus crassiuschulus), thuộc họ Scolytidae, bộ Coleoptera, loài sâu ăn lá (Eurema sp.), thuộc họ Pieridae, bộ Lepidoptera; loài xén tóc (Xystrocera globosa), thuộc họ Cerambycidae, bộ Coleoptera; loài mọt (Platypus pseudocupulatus), thuộc họ Scolytidae và bộ Coleoptera. Tại Thái Lan bao gồm loài mọt (Sinoxylon sp.), thuộc họ ostrychidae, bộ Coleoptera; loài sâu ăn vỏ (Indarbela sp.), thuộc họ Metarelidae, bộ Lepidoptera; loài sâu đục thân cành (Zeuzera coffeae), thuộc họ Cossidae và bộ Lepidoptera. Tại Việt Nam gồm các loài dế mèn (Brachytrupes portentosus), thuộc họ Gryllidae, bộ Orthoptera; loài mối (Odontotrmes sp.), thuộc họ Termitidae, bộ Isoptera; loài sâu ăn lá (Agrotis ipsilon), thuộc họ Notuidae, bộ Lepidoptera; loài rầy xanh (Empoasca flavescens), thuộc họ Jassidae, bộ Hemiptera; loài sâu ăn lá (Eurema hecabe), thuộc họ Pieridae và bộ Lepidoptera.
Martin Speight và Ross Wylie (2001)[44], đã thống kê các loài côn trùng gây hại chính đối với keo ở các một số nƣớc nhiệt đới, các tác giả đã xác định có 26 loài sâu gây hại các loài keo, trong đó sâu ăn lá có 10 loài, cụ thể gồm có loài bọ cánh cứng hại lá (Paropsis sp.), câu cấu nâu xám (Gonipterus scutellatus), câu cấu xanh (Hypomeces squamosus), câu cấu nhỏ (Myllocerus sp.), bọ hung nâu nhỏ (Anomala sp.), kiến vống (Atta sp.), sâu róm (Eupseudosoma sp.), sâu xám (Spodoptera litura), sâu ă lá (Eurema sp.) và sâu kèn (Pteroma plagiophleps); sâu chích hút nhựa có 1 loài (Ceroplastes sp.); xén tóc (Penthea pardalisi) và sâu đục thân cành (Indarbela quadrinnotata); sâu đục thân, đục vỏ có 9 loài, cụ thể gồm có loài xén tóc nâu (Xystrocera globoca), loài xén tóc (Anoplophora sp.), xén tóc nâu phớt vàng (Celosterna scabrator), mọt sáu gai (Apate sp.), mọt hai gai (Sinoxylon sp., mọt (Platypus sp.), mọt (Xyleborus sp.), mối (Macrotermes spp.) và mối (Odontotermes spp.); sâu hại quả 2 loài, cụ thể loài bọ cánh cứng (Bruchidius spp.) và sâu đục quả (Dioryctria spp.) và sâu hại rễ 2 loài, gồm có loài bọ hung (Lepidiota spp.) và loài mối (Coptotermes spp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Kết quả điều tra ở vƣờn thực vật Tai Po, Hong Kong từ năm 1994 đến 2003 đã phát hiện ra 2 loài thuộc giống Phalera là loài sâu 9 chấm (Phalera grotei), sâu ăn lá (Phalera torpida) thuộc họ Notodontidae (Kendrick, 2004) [38]. Các loài sâu gây hại chính trên Keo tai tƣợng ở một số nƣớc trên thế giới, cụ thể tại Úc có loài sâu róm (Ochrogaster lunifer) và sâu ăn lá (Crytophlebia sp.); tại Thái Lan có loài sâu cuốn lá (Archips micaceana), loài mọt (Sinoxylon anale), tại Ấn Độ có loài sâu kèn (Pteroma plagiophleps), tại Malaysia có loài sâu khoang (Spirama retorta). Senthilkumar và Murugesan (2015) [59] đã tìm ra các loài sâu hại chính trên Keo tại Nam Ấn Độ là loài ăn lá (Eumeta crameri) và sâu đo (Achaea janata).
Cũng tại Ấn Độ Kotikal và Math (2016) [41] cũng đã đƣa ra danh sách các loài gây hại trên cây chùm ngây đồng thời cũng gây hại trên keo nhƣ loài sâu ăn lá (Euptero temollifera), sâu róm (Euproctis lunata). Đặc điểm sinh học, sinh thái Theo kết quả nghiên cứu của Nan Yao Su & Rudolf H. Scheffrahn (2000) [46], giống mối Coptotermes hại keo, giống mối này gồm có mối lính và mối thợ. Thành phần chính của tổ là các mối thợ có chức năng xây tổ và kiếm thức ăn, mối thợ có thân mềm màu trắng, chiều rộng đầu khoảng 1,2- 1,3mm, chiều dài thân khoảng 4-5mm, chiều rộng ngực hẹp hơn đầu.
Mối cánh có màu nâu vàng dài khoảng 12-15mm và có nhiều lông nhỏ trên cánh. Mối cánh rất nhạy cảm với ánh sáng. Mối lính có kích thƣớc tƣơng đƣơng với mối thợ và có đầu hình ô van màu nâu cam, hàm dƣới cong và thân hình trắng ngà. Theo Chris Burwell (2011) [34], nhiều ngƣời dân ở Úc đã quen thuộc với loài sâu có tên khoa học là Ochrogaster lunifer, (Lepidoptera, Thaumetopoeidae), trƣởng thành cái đẻ trứng thành đám và sâu non gây hại ở một số loài keo khác nhau nhƣ: Acacia acuminata, A.
anceps và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Loài sâu này ở giai đoạn sâu non thƣờng đi theo đám đi đầu con này bám vào đuôi con khác và hình thành chuỗi dài vào cuối mùa hè và mùa thu, lông của loài sâu này thƣờng làm cho ngứa và dị ứng khi chạm phải. Cánh trƣởng thành sải cánh rộng 5,0 - 6,5cm, trƣởng thành đực sải cánh nhỏ hơn khoảng 4,5 - 5,5cm. Cánh của trƣởng thành cái màu nâu hoặc nâu xám với một đốm trắng nhỏ trên mỗi cánh trƣớc và cánh sau.
Con đực và con cái giống nhau hoặc chúng có 2 - 4 chấm trắng ở cánh trƣớc.