Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái học của coptotermes formosanus shiraki odontotermes hainanensis light và sử dụng chế phẩm từ metarhizium anisopliae metsch sorok phòng trừ chúng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sinh học sinh thái của Coptotermes formosanus và Odontotermes hainanensis, ứng dụng Metarhizium anisopliae trong phòng trừ.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Nghiệp

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

205
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Coptotermes formosanus và Odontotermes hainanensis

Nghiên cứu sinh học về Coptotermes formosanusOdontotermes hainanensis đã chỉ ra rằng hai loài mối này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến các công trình xây dựng và hệ sinh thái. C. formosanus được biết đến với khả năng sinh sản nhanh chóng và khả năng thích nghi cao với môi trường đô thị, trong khi O. hainanensis thường gây hại cho các công trình thủy lợi. Việc hiểu rõ về sinh học và sinh thái của hai loài này là cần thiết để phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Theo nghiên cứu, C. formosanus có thể gây thiệt hại lên đến 3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm tại Mỹ, cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và quản lý chúng.

1.1 Đặc điểm sinh học của Coptotermes formosanus

Coptotermes formosanus có đặc điểm sinh học nổi bật như khả năng xây dựng tổ ngầm và sinh sản nhanh chóng. Chúng có thể sống trong các điều kiện khắc nghiệt và phát triển mạnh mẽ trong môi trường đô thị. Nghiên cứu cho thấy rằng loài này có thể tạo ra hàng triệu cá thể trong một tổ, làm tăng khả năng gây hại cho các công trình. Việc nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh học của C. formosanus sẽ giúp phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả hơn.

1.2 Đặc điểm sinh thái của Odontotermes hainanensis

Odontotermes hainanensis thường sống trong các tổ lớn và có khả năng gây hại cho các công trình thủy lợi. Chúng có thể tạo ra các tổ mối lớn trong đất, gây ra sự suy giảm cấu trúc đất và làm giảm khả năng chống chịu của các công trình. Nghiên cứu về sinh thái của O. hainanensis cho thấy rằng chúng có thể tồn tại trong nhiều loại môi trường khác nhau, từ đất ẩm đến khô, điều này làm cho việc kiểm soát chúng trở nên khó khăn hơn.

II. Nghiên cứu về Metarhizium anisopliae

Nấm Metarhizium anisopliae đã được nghiên cứu như một biện pháp sinh học để phòng trừ Coptotermes formosanusOdontotermes hainanensis. Nghiên cứu cho thấy rằng nấm này có khả năng gây bệnh cho mối, làm giảm đáng kể số lượng cá thể trong quần thể. Việc sử dụng nấm M. anisopliae không chỉ hiệu quả mà còn thân thiện với môi trường, giúp giảm thiểu việc sử dụng hóa chất độc hại. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nấm này có thể được áp dụng trong các điều kiện tự nhiên để kiểm soát mối một cách hiệu quả.

2.1 Hiệu lực diệt mối của Metarhizium anisopliae

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng M. anisopliae có hiệu lực diệt mối cao, đặc biệt là trong điều kiện phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, hiệu quả của nó trong điều kiện tự nhiên vẫn cần được nghiên cứu thêm. Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của nấm này là rất quan trọng để tối ưu hóa quy trình sử dụng. Các thử nghiệm cho thấy rằng nấm có thể lây nhiễm qua tiếp xúc và qua đường miệng, làm tăng khả năng kiểm soát mối trong quần thể.

2.2 Quy trình sử dụng Metarhizium anisopliae trong phòng trừ mối

Để sử dụng M. anisopliae hiệu quả trong phòng trừ mối, cần thiết lập quy trình cụ thể. Quy trình này bao gồm việc sản xuất chế phẩm nấm, lựa chọn thời điểm và phương pháp áp dụng. Nghiên cứu đã đề xuất các công thức chế phẩm khác nhau để tối ưu hóa hiệu quả diệt mối. Việc áp dụng quy trình này không chỉ giúp kiểm soát mối mà còn bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm từ hóa chất.

III. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu về Coptotermes formosanus, Odontotermes hainanensisMetarhizium anisopliae đã chỉ ra rằng việc hiểu rõ sinh học và sinh thái của các loài mối này là rất quan trọng để phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Việc sử dụng nấm M. anisopliae như một biện pháp sinh học không chỉ hiệu quả mà còn thân thiện với môi trường. Cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện quy trình sử dụng nấm này trong thực tiễn, nhằm bảo vệ các công trình và môi trường sống.

3.1 Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học và sinh thái của C. formosanusO. hainanensis trong các điều kiện tự nhiên khác nhau. Điều này sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của M. anisopliae và phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả hơn.

3.2 Khuyến nghị áp dụng thực tiễn

Khuyến nghị áp dụng các chế phẩm từ M. anisopliae trong quản lý mối tại các khu vực có nguy cơ cao. Việc này không chỉ giúp bảo vệ các công trình mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Cần có sự phối hợp giữa các nhà khoa học, quản lý và cộng đồng để thực hiện hiệu quả các biện pháp này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Coptotermes formosanus Shiraki (1909) còn gọi là mối ngầm Đài Loan, chúng phân bố rộng và gây hại nặng nề cho công trình kiến trúc ở nƣớc ta và nhiều nƣớc thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Nguyễn Chí Thanh, 1996; Culliney and Grace , 2000) [28, 60]. Khả năng thích nghi cao với điều kiện đô thị hoá cho phép loài mối này mở rộng vùng phân bố rất nhanh ở các nƣớc nói trên. Do đó việc phòng trừ chúng trở thành vấn đề quan tâm đặc biệt của nhiều nhà khoa học và các tổ chức khác nhau. Trong lĩnh vực thuỷ lợi và thuỷ điện, giống mối Odontotermes đƣợc xác định là đối tƣợng gây hại phổ biến nhất cho đê, đập ở Việt Nam và Trung Quốc (Nguyễn Đức Khảm, 1976; Vũ Văn Tuyển, 1982; Lin Shu- qing, et al.

Theo số liệu thống kê, số lƣợng tổ của loài Odontotermes hainanensis Light (1924) chiếm tới 46,2 % số tổ mối trên đê của vùng châu thổ sông Hồng (Nguyễn Đức Khảm, 2002) [15]. Tổ của chúng tạo thành các ẩn hoạ nguy hiểm trong mùa mƣa lũ. Hàng năm các lực lƣợng quản lý đê, đập đã phải tốn rất nhiều công sức và tiền của để hạn chế mức độ gây hại của loài mối này. Đối với các loài mối gây hại nói chung và hai loài mối có nghĩa kinh tế quan trọng kể trên, ngƣời ta đã đề xuất nhiều phƣơng pháp khác nhau để phòng trừ chúng.

Song các phƣơng pháp hiện hành đều có hạn chế chung là phải sử dụng các hoá chất độc hại để xử lý, làm ô nhiễm môi trƣờng. Thực tế này đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu tìm kiếm các phƣơng pháp phòng trừ chúng một cách thân thiện hơn với môi trƣờng (Mark, 2002) [102]. Một trong những phƣơng pháp đƣợc quan tâm là sử dụng vi sinh vật diệt mối, trong đó có loài nấm sợi Metarhizium anisopliae (Metsch) Sorok (1883). Nhiều nghiên cứu cho thấy loài nấm sợi M.

anisopliae có hoạt lực diệt mối rất cao trong điều kiện phòng thí nghiệm với số lƣợng cá thể mối hạn chế. Còn kết quả thử nghiệm đối với tổ của các loài mối trong điều kiện tự nhiên lại chƣa thành công hoặc cho kết quả không rõ ràng. z Một trong các nguyên nhân quan trọng có thể là chƣa có sự gắn kết giữa việc nghiên cứu sản xuất, sử dụng chế phẩm M. anisopliae với các đặc điểm sinh học, sinh thái học của mỗi loài mối.

Hầu hết các tác giả đều sử dụng bào tử thu đƣợc từ quá trình lên men M. anisopliae trên môi trƣờng rắn (hay môi trƣờng xốp) để thử nghiệm phòng trừ các loài mối khác nhau theo cách gần nhƣ nhau (Culliney and Grace , 2000; Harry et al., 2004) [60, 78], mà chƣa quan tâm nhiều đến đặc điểm sinh học, sinh thái học của từng loài mối thử nghiệm, cho nên kết quả thƣờng chƣa rõ ràng và ổn định. Nhằm góp phần giải quyết vấn đề này, chúng tôi chọn hai loài mối gây hại điển hình là Coptotermes formosanus Shiraki, thuộc nhóm mối không có vƣờn cấy nấm Termitomyces và Odontotermes hainanensis Light, thuộc nhóm mối có vƣờn cấy nấm Termitomyces, để thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của Coptotermes formosanus Shiraki; Odontotermes hainanensis Light và sử dụng chế phẩm từ Metarhizium anisopliae (Metsch) Sorok phòng trừ chúng”. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học quan trọng của Coptotermes formosanus và Odontotermes hainanensis làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý các chế phẩm M.

anisopliae trong phòng trừ đối với từng loài mối và đề xuất qui trình sử dụng các chế phẩm này trong phòng trừ chúng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là loài mối C. formosanus, gây hại chính đối với công trình kiến trúc và loài mối O. hainanensis gây hại chủ yếu đối với đê, đập và hiệu lực diệt trừ hai loài mối này của các chế phẩm M.

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học quan trọng của C. hainanensis, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý các loại chế phẩm M. anisopliae để phòng trừ chúng; thí nghiệm trong phòng để thiết lập và lựa chọn các công thức chế phẩm có hiệu lực phòng trừ cao nhất đối với mỗi loài mối; thử nghiệm, đánh giá hiệu quả phòng trừ của các công thức chế phẩm ở z điều kiện mối đang gây hại ngoài tự nhiên để xây dựng qui trình sử dụng hợp lý các chế phẩm cho từng loài mối. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ý nghĩa khoa học - Bổ sung và hệ thống các dẫn liệu sinh học, sinh thái học của C.

hainanensis, liên quan đến việc sử dụng các chế phẩm M. anisopliae trong phòng trừ mỗi loài. - Thu thập, phân lập, tuyển chọn và bảo quản bộ sƣu tập 9 chủng M. anisopliae phòng trừ C.

ý nghĩa thực tiễn - Xây dựng qui trình nhân nuôi các chủng M. anisopliae có hoạt lực cao trong phòng trừ C. - Thiết lập một số công thức chế phẩm M. anisopliae phòng trừ C.

hainanensis, trên cơ sở các đặc điểm sinh học, sinh thái học có liên quan của chúng. - Đề xuất qui trình sử dụng các chế phẩm M. anisopliae phòng trừ mối C. hainanensis đạt hiệu quả kinh tế và không gây ô nhiễm môi trƣờng.

CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LOÀI MỐI COPTOTERMES FORMOSANUS SHIRAKI z 1.1 Nghiên cứu loài mối C. formosanus ở nƣớc ngoài 1.1 Nghiên cứu sinh học, sinh thái học Phân bố Loài mối Coptotermes formosanus Shiraki thuộc giống Coptotermes Wasmann,1896. Trong số 28 loài thuộc giống này, C. formosanus là loài có tốc độ mở rộng vùng phân bố nhanh nhất trên thế giới (Culliney and Grace, 2000; Henderson and Fei, 2000; Su, and Tamashiro, 1987 [60, 79, 120].

Coptoterrmes làm tổ ngầm ở các khu đô thị, nên chúng còn đƣợc gọi là nhóm mối ngầm đô thị - Urban subterranean termite (Ruan, 2000) [115]. formosanus có nguồn gốc từ Trung Quốc, lần đầu tiên đƣợc Sumutey (1909) phân loại theo mẫu thu tại Đài Loan và chúng luôn làm tổ ngầm nên thƣờng đƣợc gọi là mối ngầm Đài Loan (Formosan subterranean termite - FST). Loài này xâm nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ 17 và đƣợc ngƣời Nhật gọi là loài mối nhà và đƣợc đƣa vào Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ II. Những chiếc tàu thuỷ đƣợc cho là phƣơng tiện chở loài mối ngầm này phát tán đi khắp thế giới.

Nhờ sự thích ứng cao và khả năng sinh sản lớn, mối C. formosanus đã nhanh chóng phát triển và mở rộng vùng phân bố của chúng. Ở Mỹ, năm 1965 ngƣời ta chỉ mới phát hiện thấy chúng ở Houston, bang Tesax đến năm 1984 đã tìm thấy loài này ở 9 bang và hiện nay chúng hiện diện ở hầu hết các bang miền nam của Mỹ (Thomas,1997) [130]. Tác hại Loài mối ngầm Đài Loan là đối tƣợng gây hại nặng nề nhất cho các công trình kiến trúc ở nhiều nƣớc trên thế giới.

Ở Mỹ, hàng năm mối gây thiệt hại hơn 3 tỉ đô la Mỹ, trong đó khoảng 80% do các loài mối làm tổ ngầm gây ra, mà thủ phạm chủ yếu là C. Loài này tấn công các vật liệu có nguồn gốc Xenlulose nhƣ cây sống, gỗ xẻ, đồ vật bằng gỗ, hồ sơ tài liệu, bao bì v. Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, chúng dễ dàng từ bỏ con đƣờng đã bị tác động và thiết lập một đƣờng giao thông mới để quay về tổ từ nguồn thức ăn đã định vị (Grace, 1995) [72]. Làm tổ z Coptotermes formosanus thƣờng chọn nơi có độ ẩm thích hợp, kín đáo và yên tĩnh bên trong các công trình kiến trúc để làm tổ.

Ngoài loại tổ chìm trong đất khá phổ biến, C. formosanus còn xây dựng tổ trong các cấu kiện không phải là đất, còn gọi là tổ trên không ( Aerial colonies). Ngƣời ta đã thống kê đƣợc 25% tổ mối C. formosanus tìm thấy ở các thành phố phía Đông nam bang Florida thuộc về loại tổ không tiếp xúc với đất (Thomas, 1997) [130].

Ngoài 2 loại tổ đƣợc hình thành từ các đôi mối cánh nguyên thuỷ kể trên, còn có loại tổ thứ 3 đƣợc hình thành nhờ sự xuất hiện của mối chúa thay thế, khi một phần quần tộc (colony) của loài mối này bị tách biệt khỏi cá thể sinh sản nguyên thuỷ (Chen và Henderson, 1997) [54]. formosanus thƣờng khá lớn và xốp. Hình dạng tổ lệ thuộc nhiều vào vị trí làm tổ. Chúng sử dụng chất tiết trộn với gỗ vụn và đ ất làm nguyên liệu xây tổ.

Coptotermes formosanus là loài mối không làm vƣờn cấy nấm, nên tổ của chúng có cấu trúc rỗng và đơn giản hơn các loài mối làm tổ có vƣờn cấy nấm. Việc điều tiết vi khí hậu trong tổ cũng đơn giản. Chúng tập trung số lƣợng cá thể về tổ khi nhiệt độ môi trƣờng xuống thấp và phân tán khi nhiệt độ lên quá cao (Henderson và Fei, 2000) [79]. Mỗi quần tộc mối C.

formosanus thƣờng có tổ chính và nhiều tổ phụ (Liu et al. Đẳng cấp Nhiều tác giả cho rằng không giống với các loài mối ngầm thuộc Reticulitermes có tới 3 loại: mối thợ lớn, mối thợ trung bình và mối thợ nhỏ (Crosland et al. 1997; Crosland và Traniello, 1997; Crosland et al. formosanus đơn giản hơn, chỉ có 1 loại mối thợ, nhƣng kích thƣớc và trọng lƣợng cơ thể mối thợ lại tuỳ theo tuổi của chúng (Grace, 1995) [71].

Theo Liu et al. (1998) [97], mối sinh sản gồm mối vua, mối chúa, mối cánh nguyên thuỷ và mối chúa thay thế. Chúng có chức năng sinh sản hoặc sẽ làm nhiệm vụ sinh sản trong tƣơng lai. Mối thợ làm nhiệm vụ kiếm ăn, xây tổ và chăm sóc mối vua, mối chúa và mối non.

Mối lính làm nhiệm vụ bảo vệ quần tộc nơi kiếm ăn và bảo vệ tổ. Mối cánh có 2 loại: mối cánh nguyên thuỷ, còn gọi là mối cánh thực thụ và mối z cánh ngắn, sẽ trở thành mối chúa thay thế khi cần thiết. Khi đào đƣợc một khoang nhỏ cho mình, đôi mối cánh nguyên thuỷ bắt đầu đẻ trứng. Mối cái đẻ liên tục nhƣ một cái máy và sau khoảng 3 - 5 năm từ một tổ mối ban đầu nhƣ vậy sẽ phát triển thành một tổ mối ở giai đoạn trƣởng thành có tới vài triệu cá thể.

Vào giai đoạn này chúng gây thiệt hại lớn cho công trình kiến trúc, nơi chúng làm tổ và những công trình lân cận. Từ đây trong tổ xuất hiện mối cánh nguyên thuỷ và mối cánh ngắn (Thomas, 1997) [130].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về sinh học và biện pháp phòng trừ Coptotermes formosanus và Odontotermes hainanensis" tập trung vào nghiên cứu sinh học và các biện pháp phòng trừ hai loài mối gây hại này bằng cách sử dụng Metarhizium anisopliae. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học của các loài mối mà còn đề xuất các phương pháp hiệu quả để kiểm soát chúng, từ đó giúp bảo vệ môi trường và tài nguyên sinh học. Đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực sinh học và quản lý sinh thái, luận án này sẽ là một tài liệu quý giá.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm sợi gây hại trên thấu kính ống nhòm tại Việt Nam", nơi nghiên cứu về các loài nấm gây hại, hoặc "Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế", cung cấp cái nhìn về đa dạng sinh học trong môi trường nước ngọt. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến sinh học và nghiên cứu sinh thái, giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn phong phú hơn về lĩnh vực này.