CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CÂY CÓ MÚI Ở VIỆT NAM VÀ TẠI TỈNH HÒA BÌNH. Thực trạng sản xuất cây có múi ở Việt Nam.
Các loại cây có múi (cam, bưởi, quýt. chanh…) là những loại cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam nói chung và tại tỉnh Hoà Bình nói riêng. Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, những năm gần đây, diện tích và sản lượng cây có múi (cam, quýt, bưởi, chanh) của cả nước tăng khá nhanh. Từ năm 2013 đến nay diện tích cây cam tăng đáng kể, từ 53.800ha lên đến 90.
Từ năm 2008 - 2017, diện tích bưởi tăng từ 43.500ha lên đến 74.200ha và diện tích quýt tăng từ 7.400ha lên đến gần 22. Năm 2017, tổng diện tích cây có múi (cam, quýt, bưởim chanh) của cả nước là 186. Xu hướng vẫn còn tiếp tục tăng, đến hết tháng 9/2018 đạt trên 192. Hiện một số địa phương vùng trung du miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn) đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa mang lại giá trị cao, từng bước khẳng định được thương hiệu sản phẩm.
Tổng diện tích cây có múi của cả vùng này năm 2017 khoảng 56.400ha, sản lượng đạt 324.500 tấn (chiếm 62% diện tích cam, quýt, bưởi toàn miền Bắc và bằng 30,2% so với cả nước); chiếm 27,4% tổng diện tích cây ăn quả toàn vùng và gần bằng so với nhóm nhãn, vải (61. Tuy nhiên, nhìn chung trên quy mô cả nước sản xuất cây có múi còn gặp nhiều khó khăn như chất lượng giống cây chưa cao và chưa ổn định, chịu ảnh hưởng nhiều của hiện tượng biến đổi khí hậu, tổ chức sản xuất còn lỏng lẻo, các Hợp tác xã kiểu mới thành lập chưa nhiều, vùng sản xuất hàng hóa chưa hình thành tập trung và chưa rõ nét và chưa đạt được tiêu chí về hiệu quả kinh tế và môi trường… Vì vậy, để phát triển cây có múi ở Việt Nam một cách bền vững, cần thực hiện tốt những giải pháp sau. Một là, các địa phương phải rà soát quy hoạch, chỉ đạo phát triển ở những vùng, địa hình thuận lợi cho cây có múi. Tránh phát triển “nóng” ở những vùng ít 4 thuận lợi, bởi sẽ làm cho hiệu quả sản xuất thấp, gặp nhiều rủi ro trong canh tác và tiêu thụ sản phẩm.
Hai là, thúc đẩy hình thành các hình thức tổ chức sản xuất cây có múi của nông dân như các Câu lạc bộ, Tổ hợp tác, Hợp tác xã gắn với vùng sản xuất hàng hóa lớn làm cơ sở cho canh tác trên quy mô lớn, liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất cây có múi đã được hình thành như tưới nước tiết kiệm, phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp, bón phân chuyên dụng, canh tác tiên tiến… Ba là, xây dựng và vận hành chuỗi liên kết sản xuất ở các vùng chuyên canh hàng hóa lớn, nâng cao năng lực, hiệu quả canh tác cho người nông dân. Thực thi tốt các chính sách của nhà nước trong sản xuất hàng hóa; liên kết tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại thị trường, chứng nhận chất lượng, nhãn mác hàng hóa, đặc biệt là chính sách về tín dụng cho sản xuất cây có múi 1. Thực trạng sản xuất cây có múi ở tỉnh Hòa Bình.
Hoà Bình là một tỉnh có diện tích và sản lượng hàng hoá cây có múi quan trọng trong cả nước. Tính đến tháng 11/2018, Hòa Bình có 9.839ha cây có múi, trong đó, diện tích trồng mới là 4.665ha; diện tích kinh doanh là 5.174ha, năng suất bình quân 239 tạ quả/ha, sản lượng 123.732 tấn quả, chủ yếu tập trung chủ yếu ở Cao Phong. Trong đó, tại Cao Phong, diện tích cây cam là 4.770ha, quýt 383ha; bưởi 4.212ha; chanh 474ha [10,11]. Chủng loại giống khá đa dạng, giúp rải vụ thu hoạch từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Ngoài Cao Phong, cây có múi ở Hoà Bình đã mở rộng sang các địa phương khác, hình thành vùng chuyên canh như vùng cam Lạc Thủy, Kim Bôi, Lạc Sơn; vùng bưởi Đỏ Tân Lạc; vùng bưởi Diễn Yên Thủy, Lương Sơn. Một số giống đã thích ứng với điều kiện địa phương, chất lượng cao: ít hạt, không hạt; đủ điều kiện xuất khẩu như các giống Cam V2, Cam Marr, Cam C36, Bưởi da xanh, Bưởi đỏ [11]. Điều đáng ghi nhận là diện tích cây có múi tại Hoà Bình trồng theo quy trình VietGAP đạt diện tích 632,98 ha/18 đơn vị được chứng nhận, chiếm gần 7 % diện tích trồng trọt. Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận là tỷ lệ này còn rất thấp so mục tiêu đề ra.
Dự kiến, đến năm 2020, Hòa Bình sẽ có trên 70% diện tích cây có múi trồng theo quy trình VietGAP, đạt doanh thu 400-500 triệu đồng/ha/năm [10]. 5 Hiện nay tỉnh Hòa Bình có khoảng 10 giống cam, quýt quan trọng, chia thành 3 nhóm chính: Nhóm Chín sớm, gồm có các giống cam CS1, cam BH, cam Marr, quýt Ôn Châu. chiếm khoảng 25% diện tích; nhóm Chính vụ, gồm cam Xã Đoài và một số giống quýt, chiếm khoảng 45% diện tích; nhóm Chín muộn có cam Đường Canh, cam V2, chiếm 30% diện tích. Hiện, tỉnh đã có 06 cơ sở sản xuất giống cây trồng nông nghiệp, trong đó, cung cấp giống cây có múi đạt trên 200 ngàn cây giống/năm.
Ngoài ra, còn có một số cơ sở có khả năng cung cấp giống như Trung tâm nghiên cứu và phát triển cây có múi Xuân Mai, Viện Di truyền Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam [11]. Về tiêu thụ sản phẩm, sản lượng quả các loại cây có múi sản xuất tại tỉnh Hoà Bình một phần phục vụ ăn tươi tại chỗ, còn tiêu thụ thông qua hợp đồng với các công ty, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp, siêu thị đạt khoảng 18% tổng sản lượng; giao dịch thông qua thương lái, nhà vườn đạt khoảng 60%; bán lẻ trực tiếp tại chỗ đạt khoảng 20%; bán lẻ tại các điểm giới thiệu ở các khu du lịch, hội chợ đạt khoảng 2-3% sản lượng. Thị trường tiêu thụ sản phẩm cây có múi của Hoà Bình chủ yếu là Hà Nội và các tỉnh lân cận. Từ năm 2016 đến nay, thị trường mở rộng vào phía Nam và một phần sang Campuchia.
Hiện tỉnh đang xây dựng nhà máy sơ chế, bảo quản sản phẩm cây có múi tại Cao Phong với công suất 20-22 ngàn tấn/năm, vốn đầu tư khoảng 130 tỷ đồng; dự kiến hoàn thành cuối 2018. Bên cạnh đó, Hòa Bình cũng đã đã phê duyệt quy hoạch diện tích cây có múi trên địa bàn tỉnh đến 2020 đạt khoảng 12.100ha, định hướng đến 2025 khoảng 17. tỉnh đang thực hiện 4 dự án chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm với kinh phí 4,5 tỷ đồng, 6 mô hình “Nông nghiệp thông minh với khí hậu” thuộc Dự dự án WB7 (cải thiện nông nghiệp có tưới) vay vốn của Ngân hàng Thế giới với quy mô 60ha, hỗ trợ đầu tư từ hạ tầng đến xúc tiến thương mại Để hoàn thành mục tiêu đề ra, Hòa Bình đã thông tin rộng rãi về diện tích, địa bàn quy hoạch và hạn chế tăng diện tích, phát triển “nóng” cam, bưởi, nhất là ở các vùng không phù hợp về điều kiện tự nhiên. Đối với diện tích trồng mới cây có múi, chủ yếu bố trí các giống phù hợp với các nhóm chín sớm, chính vụ và chín muộn để rải vụ; hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đặc biệt, đối với các 6 diện tích tái canh đã hướng dẫn nông dân, nhà vườn cải tạo, xử lý đất nhằm loại bỏ tác nhân gây hại trong đất (tuyến trùng, rệp sáp, nấm), đảm bảo đất sạch trước khi trồng mới. Bên cạnh đó, tỉnh Hoà Bình cũng kiên quyết xử lý những trường hợp phá rừng, chuyển đổi đất rừng để trồng cây có múi ngoài quy hoạch. Quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nước, đặc biệt là nước ngầm, ứng dụng giải pháp tưới tiết kiệm. Giảm dần và chấm dứt hỗ trợ diện tích trồng mới, tập trung nguồn lực chứng nhận An toàn thực phẩm, VietGAP, hữu cơ, xúc tiến thương mại.
Sử dụng hiệu quả nguồn vốn để phát triển chuỗi giá trị, bảo quản, sơ chế, chế biến sản phẩm [11]. Mặt khác, các tổ chức xúc tiến khoa học và khuyến nông của tỉnh cũng đẩy mạnh công tác bình tuyển, quản lý cây đầu dòng theo quy định pháp luật, phục tráng giống bản địa. Điều tiết giống rải vụ thuận lợi cho thu hái, tiêu thụ tươi và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong sản xuất, kinh doanh giống cây trồng.
Nâng cao tỷ lệ sử dụng cây giống chất lượng, sạch bệnh, nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tiêu chuẩn, tăng diện tích giống có giá trị xuất khẩu tại các vùng phù hợp. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thích ứng biến đổi khí hậu. Áp dụng công nghệ cao vào sản xuất, tạo sức cạnh tranh thị trường trong và ngoài nước. Hỗ trợ triển khai mô hình cây có múi an toàn theo chuẩn VietGAP, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Xây dựng khu sơ chế sản phẩm nông nghiệp công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng. Hỗ trợ, hướng dẫn kết nối thị trường xuất khẩu, cung cấp thông tin về thị hiếu người tiêu dùng những thị trường xuất khẩu tiềm năng: Bắc Mỹ, Đông và Tây Âu, Đông Bắc Á, Trung Á, Asean. Đồng thời, giúp địa phương cấp mã số vùng trồng; kiểm dịch thực vật; các yêu cầu về an toàn thực phẩm. Để sản xuất cây có múi phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp như: khuyến cáo người dân chỉ sử dụng giống có nguồn gốc rõ ràng, sạch bệnh; không sử dụng các giống tự nhân bằng phương pháp chiết, ghép, không qua tuyển chọn để trồng; bố trí cơ cấu giống đa dạng: chín sớm - chính vụ- chín muộn để kéo dài thời gian thu hoạch, giảm áp lực cung - cầu trong thời gian ngắn nhằm hạn chế được mùa mất giá… Ngoài ra, các cơ quan hữu quan của tỉnh cần rà soát quy hoạch, tránh phát triển “nóng”, vì vùng ít thuận lợi thì nhiều rủi 7 ro trong sản xuất, giá thường thấp, chi phí lại cao; thúc đẩy thành lập câu lạc bộ, tổ hợp tác, hợp tác xã gắn với vùng sản xuất lớn để bao tiêu sản phẩm cho nhà vườn; áp dụng tưới tiết kiệm nước; bón phân chuyên dụng; bao quả và phải làm đồng bộ.