Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tình hình chung về chăn nuôi trâu ở Việt Nam Trâu là loài gia súc đã được thuần dưỡng từ rất lâu đời và đã đem lại những lợi ích thiết thực cho đời sống con người, vì vậy nó được coi là con vật gần gũi, thân thiện với con người. Đặc điểm của trâu Việt Nam là có khả năng chịu đựng kham khổ và chống đỡ bệnh tật cao, nhưng khả năng cho thịt và cho sữa thấp, tầm vóc nói chung là không lớn (Mai Văn Sánh và cs, 2006) [37].
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu với cây lúa nước là cây trồng chính. Trâu, bò được nuôi trong mỗi gia đình nông dân với mục đích chính là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: cày ruộng, lấy phân bón ruộng và sau đó mới sử dụng bò vào mục đích kéo xe. Mùa đông ở miền Bắc và mùa khô ở miền Nam là thời gian trâu, bò bị thiếu hụt thức ăn trầm trọng và phải sống trong môi trường sống bất lợi như quá lạnh, quá nóng, bệnh dịch và thiếu nước. Có những năm trâu bò đổ ngã lên tới trên 20% tổng đàn tại một số tỉnh vùng núi phía Bắc hay Ninh Thuận ở miền Trung.
Quá trình thích nghi và chọn lọc tự nhiên này đã hình thành nên giống trâu bò địa phương của ta nhỏ con, dễ nuôi, sinh ra để “cày ruộng”. Từ năm 1995, đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trâu bò cũng đang được chuyển dần từ mục đích cày kéo sang mục đích sản xuất thịt và sữa. Mặc dù vậy, một nước chủ yếu là nông nghiệp thì con trâu, con bò vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp vì những lợi ích như: Tăng sản phẩm thịt cho xã hội, do vậy mà giảm nhập khẩu thịt đỏ; Giải quyết sức kéo cho nhiều vùng chưa có điều kiện cơ khí hóa; Tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có, tận dụng được các phụ phế phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến như rơm rạ, thân cây e 5 ngô, lá mía…; Là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt, thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản; Ngoài ra, chăn nuôi trâu, bò còn góp phần giải quyết việc làm cho lao động phụ hay lao động nông nhàn, cải thiện sinh kế và xóa đói giảm nghèo. Chăn nuôi trâu ở Việt Nam chủ yếu là chăn nuôi nông hộ (Mai Văn Sánh cs, 1996) [34].
Điều kiện sinh thái của nước ta là nhiệt đới nóng ẩm và nghề trồng lúa nước là cơ sở để phát triển chăn nuôi trâu ở Việt Nam (Mai Văn Sánh,1996) [34]. Chăn nuôi trâu chủ yếu là để lấy sức kéo, phân chuồng và là nguồn tiết kiệm của gia đình. Trước đây chăn nuôi trâu đóng vai trò kém quan trọng hơn so với bò thịt. Nhưng hiện nay vai trò của chăn nuôi trâu đã trở nên quan trọng hơn khi mà 50% thịt bò cung cấp trên thị trường thực tế là thịt trâu Năm 2007, số lượng thịt trâu sản xuất chiếm gần 40% tổng số thịt trâu, bò tiêu thụ trên thị trường (TCTK, 2008) [49].
Như vậy chăn nuôi trâu cho thịt đã trở nên quan trọng trong các vùng núi của Việt Nam. Theo Nguyễn Đức Thạc (2000) [43], Đào Lan Nhi (2000) [28], xu hướng hiện nay nuôi trâu không không phải chủ yếu chỉ để khai thác sức kéo nữa mà có xu hướng dần dần chuyển sang khai thác thịt. Tuy nhiên theo ước tính thịt trâu cũng chiếm chưa tới 2% tổng số thịt tiêu thụ trên thị trường, tương đương với khoảng 0,33kg trên đầu người. Trâu chủ yếu được nuôi ở vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ với 50% số lượng trâu được nuôi ở vùng núi phía Tây Bắc.
Đàn trâu nuôi ở Tây Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 1998 - 2007. Trong khi đó, trâu có xu hướng giảm ở các vùng Đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Đồng Bằng Sông Cửu Long trong cùng thời gian đó. Còn đàn trâu nuôi ở vùng Đông Bắc có tăng lên ở năm 1999, sau đó giảm xuống dần trong hai năm 2000 và 2001 và gần như giữ nguyên đàn như vậy cho đến năm 2006 và từ năm 2007 đến nay mới bắt dầu có chiều hướng tăng nhẹ. e 6 Chăn nuôi trâu tuy chỉ được xếp hạng sau chăn nuôi bò về tầm quan trọng, nhưng ngành chăn nuôi này lại có vị thế quan trọng ở một số vùng nhất định trong cả nước, cụ thể là vùng núi phía Bắc và phía Bắc của Tây Nguyên, do chúng tạo ra nguồn thu nhập đáng kể ở các vùng này.
Theo Cục chăn nuôi, chăn nuôi trâu hiện nay ở nước ta chủ yếu là chăn nuôi nông hộ truyền thống, sử dụng thức ăn tận dụng, chăn thả bờ đê, bờ ruộng, chiếm tới 90% số hộ, với quy mô chăn chỉ từ 1 - 7 con/hộ. Phương thức chăn nuôi trang trại chỉ khoảng 10%. Năm 2006, cả nước có 247 trang trại chăn nuôi trâu, tập trung nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ (124 trang trại, chiếm 42,10 %), Tây Bắc (79 trang trại, chiếm 31,98 %), Đông Bắc (38 trang trại, chiếm 15,38 %). Thực tế cho thấy nuôi trâu, bò sẽ tận dụng được phần lớn nguồn phụ phẩm từ nông nghiệp như: rơm, bẹ lá, thân cây ngô mà chăn nuôi lợn và gia cầm không thể tận dụng được.
Tuy nhiên, nuôi trâu, bò cần mức đầu tư ban đầu về giống và chuồng trại cao hơn và thời gian thu lợi lâu hơn vì chu kỳ sinh học của bò dài hơn các vật nuôi khác. Mặc dù vậy, vấn đề này có thể giải quyết được vì hiện nay ở nông thôn đang có rất nhiều kênh tín dụng khác nhau với lãi suất khá ưu đãi. Nông dân có thể dễ dàng tiếp cận với tất cả các nguồn vốn đó. Vấn đề là ở chỗ họ cần được trợ giúp về kỹ thuật nuôi trâu, bò nhằm sử dụng có hiệu quả vốn vay để phát triển kinh tế gia đình.
Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của trâu Đường tiêu hoá của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi, trong đó ba túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hoá riêng. Túi thứ 4, gọi là dạ múi khế, tương tự như dạ dày của động vật dạ dày đơn, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển mạnh. Đối với gia súc non bú sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển Trong điều kiện bình thường ở gia súc trưởng thành rãnh thực quản không hoạt động nên cả thức ăn và nước uống đều đi thẳng vào dạ cỏ và dạ tổ ong. e 7 * Dạ cỏ: Là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu.
Dạ cỏ chiếm 85-90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hoá, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hoá thức ăn. Sự tiêu hoá thức ăn trong đó là nhờ hệ vi sinh vật (VSV) cộng sinh. Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men yếm khí: Nnhiệt độ tương đối ổn định trong khoảng 38-420C, pH từ 5,5-7,4. Có tới khoảng 50-80% các chất dinh dưỡng thức ăn được lên men ở dạ cỏ.
Sản phẩm lên men chính là các a-xit béo bay hơi, sinh khối VSV và các khí thể (metan và cácbônic). * Dạ tổ ong: Là túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc có cấu tạo giống như tổ ong. Dạ tổ ong có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách. Dạ tổ ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn lên miệng để nhai lại.
Sự lên men và hấp thu các chất dinh dưỡng trong dạ tổ ong tương tự như ở dạ cỏ. * Dạ lá sách: Là túi thứ ba, niêm mạc được cấu tạo thành nhiều nếp. Dạ lá sách có nhiệm vụ chính là nghiền ép các tiểu phần thức ăn, hấp thu nước, muối khoáng và các a-xit béo bay hơi trong dưỡng chấp đi qua. * Dạ múi khế: Là dạ dày tuyến gồm có thân vị và hạ vị.
Các dịch tuyến múi khế được tiết liên tục vì dưỡng chấp từ dạ dày trước thường xuyên được chuyển xuống. Dạ múi khế có chức năng tiêu hoá men tương tự như dạ dày đơn nhờ có HCl, pepsin, kimozin và lipaza. * Tuyến nước bọt: Nước bọt có kiềm tính nên có tác dụng trung hoà các sản phẩm axit sinh ra trong dạ cỏ. Nó còn có tác dụng quan trọng trong việc thấm ướt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại được dễ dàng.
Nước bọt còn cung cấp cho môi trường dạ cỏ các chất điện giải như Na+, K+, Ca++, Mg++. Đặc biệt trong nước bọt còn có urê và phốt-pho, có tác dụng điều hoà dinh dưỡng N và P cho nhu cầu của VSV dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên tố này bị thiếu trong khẩu phần. e 8 Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn ra tương tự như ở gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột, dịch tuỵ và sự tham gia của dịch mật. Trong ruột già có sự lên men VSV lần thứ hai.
Sự tiêu hoá ở ruột già có ý nghĩa đối với các thành phần xơ chưa được phân giải hết ở dạ cỏ. * Sự nhai lại: Thức ăn sau khi ăn được nuốt xuống dạ cỏ và lên men ở đó. Phần thức ăn chưa được nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh thoảng lại được ợ lên xoang miệng với những miếng không lớn và được nhai kỹ lại ở miệng. * Hệ vi sinh vật dạ cỏ: Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần.
Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm có 3 nhóm chính: Vi khuẩn (Bacteria), động vật nguyên sinh (Protozoa) và nấm (Fungi). Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại trong lứa tuổi còn non, mặc dù chúng được nuôi cách biệt hoặc cùng với mẹ chúng. Thông thường vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong VSV dạ cỏ và là tác nhân chính trong quá trình tiêu hóa xơ. Tổng số vi khuẩn trong dạ cỏ thường là 109-1011 tế bào/g chất chứa dạ cỏ.
Trong dạ cỏ vi khuẩn ở thể tự do chiếm khoảng 30%, số còn lại bám vào các mẩu thức ăn, trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô và bám vào protozoa. Trong dạ cỏ có khoảng 60 loài vi khuẩn đã được xác định.