Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại, nhu cầu sử dụng thép hợp kim thấp độ bền cao với giới hạn chảy danh nghĩa trên 830 MPa ngày càng tăng mạnh nhằm phục vụ chế tạo các chi tiết máy chịu tải trọng động và mài mòn khắc nghiệt. Thép mác 42CrMo theo tiêu chuẩn GB/T3077 là vật liệu điển hình sở hữu cơ tính tổng hợp vượt trội, song tại thị trường Việt Nam, gần như 100% phôi thép này phải nhập khẩu từ nước ngoài với chi phí cao. Đặc biệt, bộ phận quả lô trong máy ép viên quả bàng (hoạt động với dải đường kính từ 290 mm đến 850 mm và công suất ép từ 1 đến 30 tấn/giờ) thường xuyên bị mòn vẹt, nứt vỡ khi ép các loại vật liệu có độ mài mòn cao như bột than, quặng sắt, bùn thải và tro xỉ.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện bởi tác giả Bùi Xuân Bách dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Vật liệu thuộc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, bảo vệ vào tháng 09/2022. Mục tiêu trọng tâm của luận văn là thiết lập quy trình công nghệ nấu luyện mác thép 42CrMo bằng lò cảm ứng trung tần dung lượng 750 kg/mẻ từ nguồn thép phế liệu sẵn có trong nước (thép CT3 và thép dụng cụ SKD61), kết hợp xác lập chế độ xử lý nhiệt tối ưu nhằm đúc thành công quả lô máy ép viên đạt chuẩn chất lượng quốc tế.

Nghiên cứu mang ý nghĩa kinh tế và kỹ thuật sâu sắc khi giúp doanh nghiệp cơ khí nội địa chủ động hoàn toàn nguồn phôi đúc chất lượng cao, cắt giảm từ 25% đến 30% giá thành chế tạo so với nhập khẩu phôi thanh rèn ngoại nhập, đồng thời nâng cao độ bền làm việc của quả lô ép viên trong các dây chuyền sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết hợp kim hóa thép kết cấu và động học chuyển pha nhiệt luyện thép cacbon trung bình:

  • Lý thuyết hợp kim hóa hệ Cr-Mo: Nguyên tố Crôm (hàm lượng từ 0,90% đến 1,20%) đóng vai trò mở rộng vùng ferit, nâng cao độ thấm tôi và tham gia tạo các pha cacbit dạng phức hợp giúp cải thiện khả năng chống mài mòn. Nguyên tố Mô-líp-đen (hàm lượng từ 0,15% đến 0,30%) có tác dụng thu hẹp vùng austenite, làm mịn hạt tinh thể, nâng cao độ bền nhiệt và triệt tiêu triệt để hiện tượng giòn ram loại II.
  • Lý thuyết chuyển biến pha khi tôi và ram: Quá trình nung nóng thép vượt quá điểm tới hạn Ac3 làm đồng đều hóa tổ chức austenite. Khi làm nguội nhanh trong môi trường dầu, austenite chuyển hóa thành mactenxit tôi có độ cứng cao nhưng giòn. Quá trình ram tiếp theo ở nhiệt độ trung bình sẽ phân hóa mactenxit tôi thành mactenxit ram đồng thời tiết ra các pha cacbit phân tán mịn, tạo nên sự cân bằng hoàn hảo giữa độ bền kéo và độ dẻo dai.
  • Các khái niệm cốt lõi: Luận văn tập trung khai thác các khái niệm then chốt gồm độ thấm tôi, hóa bền phân tán bởi cacbit Mo2C, giới hạn chảy đàn hồi và cơ chế mài mòn bề mặt do ma sát trượt kết hợp áp lực cao.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình thực nghiệm toàn diện kết hợp công nghệ nấu luyện và các kỹ thuật phân tích hiện đại:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu thực nghiệm: Tác giả tiến hành tính toán phối liệu và nấu luyện thực nghiệm 3 mẻ thép liên tiếp với khối lượng lần lượt là 507,1 kg (mẻ 1), 609,7 kg (mẻ 2) và 711,9 kg (mẻ 3) trong lò điện cảm ứng trung tần dung tích 750 kg/mẻ. Nguồn nguyên liệu đầu vào chính gồm thép phế CT3, phế liệu SKD61 cùng các hợp kim trung gian FeSi, FeMn, FeCr, FeMo và nhôm kim loại khử oxy.
  • Phương pháp phân tích thành phần và tổ chức tế vi: Thành phần hóa học được kiểm soát chính xác bằng phương pháp quang phổ phát xạ. Tổ chức tế vi và sự phân bố nguyên tố được quan sát qua kính hiển vi quang học Axiovert 40 MAT kết hợp kính hiển vi điện tử quét SEM tích hợp phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX). Cấu trúc pha tinh thể được kiểm tra bằng phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) với bức xạ CuKα trong dải góc quét 2θ từ 30 độ đến 100 độ.
  • Phương pháp đo kiểm cơ tính: Độ cứng tế vi và độ cứng tổng thể được đo trên thiết bị Duramin 2 (thang đo HV và quy đổi sang HB). Thử nghiệm kéo đứt xác định giới hạn bền, giới hạn chảy và độ giãn dài tương đối được thực hiện trên các mẫu đúc chuẩn gia công trước và sau nhiệt luyện. Toàn bộ thực nghiệm được hoàn thành trong giai đoạn 2021 - 2022 tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Kỹ thuật Gang Thép và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận những kết quả thực nghiệm ấn tượng, khẳng định tính khả thi của quy trình công nghệ đề xuất:

  • Kiểm soát chính xác thành phần hóa học: Thành phần hóa học của cả 3 mẻ nấu đều đạt chuẩn GB/T3077. Cụ thể, hàm lượng Cacbon được khống chế ở mức 0,38% - 0,41%, Crôm đạt 1,03% - 1,11%, Mô-líp-đen đạt 0,24% - 0,27%, Silic đạt 0,21% - 0,31% và Mangan đạt 0,52% - 0,62%. Tạp chất có hại được khử sâu với Phốt pho dưới 0,03% và Lưu huỳnh đạt mức rất thấp chỉ 0,01%.
  • Sự chuyển biến cấu trúc tế vi vượt trội: Mẫu thép ở trạng thái sau đúc có tổ chức ferit dạng mạng lưới bao quanh peclit hạt thô đại. Sau quy trình tôi ở 860 độ C trong 1 giờ làm nguội dầu và ram ở 500 độ C trong 2 giờ làm nguội không khí, tổ chức chuyển hóa hoàn toàn sang mactenxit ram mịn kết hợp bainit và các hạt cacbit Mo2C siêu mịn phân tán đồng đều ở biên hạt.
  • Cơ tính tăng trưởng đột phá sau nhiệt luyện: Độ cứng mẫu sau nhiệt luyện tăng vọt từ mức 204 HB (sau đúc) lên 433 HB (sau tôi và ram), tương đương mức tăng 112,25%.
  • Độ bền kéo và giới hạn chảy vượt xa tiêu chuẩn: Giới hạn bền kéo của thép sau nhiệt luyện đạt trung bình 1343 MPa (so với 631 MPa ở trạng thái đúc, tăng 112,83%), vượt 37% so với mức chuẩn quy định 980 MPa. Giới hạn chảy đạt 1242 MPa (so với 593 MPa trước nhiệt luyện, tăng 109,44%), vượt 49,6% so với yêu cầu tiêu chuẩn 830 MPa, trong khi độ giãn dài vẫn duy trì ở mức lý tưởng từ 12,0% đến 14,0%.

Thảo luận kết quả

Các kết quả thực nghiệm cho thấy cơ chế tăng bền của thép 42CrMo xuất phát từ sự tương tác đồng thời giữa tổ chức pha nền mactenxit ram và hiệu ứng cản trở chuyển động lệch mạng của các hạt cacbit Mo2C kích thước nano phân tán tại biên hạt. Trên phổ phân tích EDX điểm, sự tập trung mật độ cao của nguyên tố Mô-líp-đen tại các điểm trắng đã xác thực sự hình thành pha cacbit bền nhiệt, giúp duy trì độ cứng cao trong điều kiện ma sát nhiệt khi ép viên.

Dữ liệu so sánh cơ tính giữa trạng thái đúc và trạng thái nhiệt luyện có thể được minh họa trực quan qua đồ thị cột hoặc bảng số liệu biến thiên ứng suất kéo - độ giãn dài, làm nổi bật bước nhảy vọt về cơ tính khi chuyển đổi từ tổ chức peclit thô sang mactenxit ram. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố quốc tế của Chaouch và cộng sự cũng như mô hình dự báo phần tử hữu hạn của tác giả Smoljan về động học ram thép hợp kim Cr-Mo. Sự hiện diện của 0,24% - 0,27% Mo đã ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ giòn ram loại II khi làm nguội trong không khí tĩnh sau khi giữ nhiệt ở 500 độ C, tạo nên một kết cấu vật liệu có độ dai va đập bền bỉ chịu được tải trọng ép nặng của máy ép viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả đạt được, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị then chốt nhằm ứng dụng và mở rộng công nghệ vào thực tiễn sản xuất:

  • Chuẩn hóa tỷ lệ phối liệu phế liệu thép trong sản xuất công nghiệp: Các nhà máy đúc cơ khí cần áp dụng tỷ lệ phối liệu chuẩn gồm 75% - 77% thép phế CT3 kết hợp 21% - 23% thép phế SKD61, bổ sung phụ gia FeCr, FeMo và chất tăng cacbon để đạt mác 42CrMo, giúp giảm thiểu tiêu hao kim loại nguyên chất và hạ giá thành vật liệu ít nhất 20% trong vòng 6 tháng triển khai.
  • Áp dụng nghiêm ngặt quy trình nhiệt luyện 2 giai đoạn cho chi tiết quả lô: Doanh nghiệp gia công cơ khí cần thiết lập chế độ tôi tại 860 độ C (giữ nhiệt 60 phút, môi trường làm nguội dầu chuyên dụng) kết hợp ram ở 500 độ C (giữ nhiệt 120 phút, làm nguội không khí tĩnh) nhằm đảm bảo độ cứng làm việc đồng đều từ 420 HB đến 445 HB và độ bền kéo trên 1300 MPa cho toàn bộ bề mặt làm việc.
  • Mở rộng quy mô nấu luyện lên lò cảm ứng công suất lớn: Các đơn vị luyện kim cần nghiên cứu nâng cấp quy mô thử nghiệm từ lò 750 kg/mẻ lên các lò điện trung tần thương mại có dung tích từ 5 tấn đến 30 tấn/mẻ trong lộ trình từ 1 đến 2 năm tới, kết hợp công nghệ tinh luyện ngoài lò hoặc xỉ điện để nâng cao độ sạch của thép lỏng.
  • Ứng dụng công nghệ tôi cảm ứng cao tần bề mặt cục bộ: Đối với các quả lô làm việc trong môi trường bột đá, bột quặng có tính mài mòn cực cao, xưởng chế tạo nên bổ sung nguyên công tôi cao tần cục bộ bề mặt rãnh ép sau khi đã nhiệt luyện hóa tốt, nhằm đẩy độ cứng lớp mặt lên trên 55 HRC, kéo dài tuổi thọ quả lô lên gấp 1,5 đến 2 lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu có giá trị thực tiễn và tính học thuật cao, phục vụ thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Kỹ sư luyện kim và công nghệ đúc: Tiếp cận công thức tính toán phối liệu tối ưu từ nguồn thép phế CT3 và SKD61, nắm bắt kỹ thuật nấu luyện lò cảm ứng trung tần và kiểm soát xỉ khử tạp chất Photpho, Lưu huỳnh đạt tiêu chuẩn xuất xưởng.
  • Doanh nghiệp chế tạo máy và thiết bị nông - công nghiệp: Ứng dụng quy trình chế tạo quả lô ép viên quả bàng chịu mài mòn cao, chủ động sản xuất phụ tùng thay thế cho các nhà máy sản xuất phân bón viên, ép than cám, quặng thiêu kết và xử lý tro xỉ nhiệt điện.
  • Cán bộ nghiên cứu và học viên sau đại học ngành Khoa học Vật liệu: Sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình về phương pháp phân tích thực nghiệm chuyển pha tổ chức tế vi thông qua OM, SEM-EDX và XRD CuKα trên thép hợp kim thấp hóa tốt.
  • Chuyên gia quản lý kỹ thuật và tư vấn vật liệu công nghiệp: Định hình giải pháp nội địa hóa vật liệu mác cao thay thế thép nhập khẩu, tối ưu hóa chuỗi cung ứng vật tư cơ khí phụ trợ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  • Thép 42CrMo được nấu luyện trong nghiên cứu có ưu điểm gì so với thép nhập khẩu? Thép 42CrMo tự chế tạo bằng lò trung tần đạt cơ tính vượt trội với giới hạn bền trên 1340 MPa và giới hạn chảy trên 1200 MPa, hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn GB/T3077 nhưng tận dụng được nguồn thép phế SKD61 và CT3 có sẵn, giúp cắt giảm chi phí sản xuất phôi từ 25% đến 30% so với nhập khẩu nguyên khối.

  • Tại sao cần sử dụng thép phế SKD61 kết hợp với thép CT3 trong mẻ nấu? Thép phế SKD61 vốn chứa sẵn hàm lượng cao các nguyên tố quý như Crôm (từ 4,5% đến 5,5%) và Mô-líp-đen (từ 1,0% đến 1,5%). Việc phối trộn với thép CT3 giá rẻ giúp tận dụng tối đa lượng hợp kim có sẵn trong phế liệu, giảm thiểu lượng ferro nguyên chất đắt tiền cần nạp bổ sung vào lò.

  • Chế độ nhiệt luyện nào giúp quả lô máy ép viên đạt cơ tính tối ưu nhất? Quy trình tối ưu gồm hai bước: tôi nung tại 860 độ C trong 1 giờ rồi làm nguội trong môi trường dầu để đạt tổ chức mactenxit tôi, tiếp theo là ram ở 500 độ C trong 2 giờ rồi làm nguội ngoài không khí để chuyển hóa thành mactenxit ram phân tán hạt cacbit Mo2C, nâng độ cứng lên 433 HB.

  • Vai trò của nguyên tố Mô-líp-đen (Mo) trong hợp kim 42CrMo là gì? Mô-líp-đen với tỷ lệ từ 0,24% đến 0,27% giúp làm mịn hạt tinh thể austenite, nâng cao độ thấm tôi cho các chi tiết có tiết diện dày, tạo hạt cacbit phân tán Mo2C chống mài mòn và đặc biệt là loại trừ triệt để khuyết tật giòn ram loại II khi ram ở nhiệt độ cao.

  • Công nghệ đúc khuôn cát có đáp ứng được độ chính xác cho quả lô ép viên không? Phương pháp đúc khuôn cát truyền thống kết hợp hệ thống đậu ngót tính toán chuẩn xác cho phép tạo hình hoàn chỉnh phôi quả lô thô. Sau đó, quá trình gia công cơ khí như tiện, phay rãnh ép viên và nhiệt luyện hóa tốt sẽ đảm bảo độ chính xác hình học và cơ tính làm việc ổn định của quả lô.

Kết luận

  • Đóng góp học thuật và công nghệ: Xây dựng thành công quy trình công nghệ nấu luyện thép hợp kim 42CrMo bằng lò cảm ứng trung tần 750 kg/mẻ từ thép phế CT3 và SKD61, đảm bảo thành phần hóa học và cơ tính đạt chuẩn GB/T3077.
  • Tối ưu hóa quy trình nhiệt luyện: Xác lập thành công chế độ tôi 860 độ C trong dầu và ram 500 độ C ngoài không khí, tạo ra tổ chức mactenxit ram đồng nhất cùng các hạt cacbit Mo2C kích thước nhỏ mịn phân tán đều trên nền thép.
  • Bứt phá về chỉ tiêu cơ tính: Nâng độ cứng từ 204 HB lên 433 HB, giới hạn bền đạt 1343 MPa và giới hạn chảy đạt 1242 MPa với độ giãn dài 12% - 14%, đáp ứng hoàn hảo yêu cầu chịu mài mòn và chịu va đập nặng.
  • Chế tạo thành công sản phẩm thực tế: Đúc và gia công hoàn thiện quả lô máy ép viên quả bàng phục vụ dây chuyền ép viên quặng và than cám với năng suất làm việc ổn định.
  • Kêu gọi hành động và mở rộng: Đề nghị các cơ sở đúc và doanh nghiệp chế tạo cơ khí ứng dụng ngay quy trình công nghệ này vào dây chuyền sản xuất thực tế để chủ động nguồn vật tư phụ tùng thay thế, hướng tới mở rộng quy mô lò nấu lên mức 5 đến 30 tấn/mẻ trong tương lai gần.