Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược về Bacillus subtilis 1. Lịch sử phát hiện B.subtilis được phát hiện lần đầu tiên trong phân ngựa (1941) bởi Tổ chức Y học Nazi của Đức. Lúc đầu, chủ yếu được sử dụng để phòng bệnh lị cho các binh sĩ Đức chiến đấu ở Bắc Phi.
Đến những năm 1949 – 1957, khi Henrry, Albot và các cộng sự tách được chủng B.subtilis thuần khiết thì ứng dụng của vi khuẩn này mới trở nên rộng rãi. Từ đó, thuật ngữ “subtilic therapy” ra đời.subtilis được sử dụng ngày càng phổ biến và được xem như là sinh vật phòng và điều trị các bệnh về rối loạn đường tiêu hóa, các chứng viêm ruột, viêm đại tràng, chống tiêu chảy…[4] Ngày nay, B.subtilis đã và đang được nghiên cứu rộng rãi và nhiều tiềm năng ứng dụng hiệu quả trong y học, chăn nuôi, công nghiệp… 1. Đặc điểm phân loại Theo phân loại của Bergey (1994) thuộc: Bộ: Eubacteriales Họ: Bacillace Giống: Bacillus Loài: Bacillus subtilis 1. Đặc điểm hình thái B.subtilis là trực khuẩn nhỏ, hai đầu tròn, bắt màu tím Gram dương, kích thước 0,5 – 0,8µm x 1,5 – 3µm, đứng đơn lẻ hay tạo thành chuỗi ngắn.
Vi khuẩn có khả năng di động, có 8 – 12 chiên mao, sinh bào tử hình bầu dục nhỏ hơn tế bào vi khuẩn và nằm giữa tế bào.subtilis phát triển bằng cách nảy chồi do sự nứt của vỏ, không kháng acid, có khả năng chịu nhiệt, chịu ẩm, tia tử ngoại, phóng xạ… 1. Đặc điểm sinh hóa Bảng 1. Các phản ứng sinh hóa của B.subtilis Các phản ứng sinh hóa Kết quả Hoạt tính catalase + Sinh indol - MR + DO.SUBTILIS Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Thị Hiền VP + Sử dụng citrate + Khử nitrate + Tan chảy gelatin + Di dộng + Phân giải tinh bột + Arabinose + Xylose + Saccharose + Manitol + Glucose + Lactose - Maltose + (The Holt, 1992) [4] 1. Tính đối kháng của B.subtilis đối với một số vi sinh vật gây bệnh Với vi sinh vật gây bệnh, mỗi loài sinh vật khác nhau sẽ thích hợp ở điều kiện môi trường khác nhau.
Thay đổi môi trường hoặc các yếu tố môi trường bất lợi là làm thay đổi điều kiện sống, làm hạn chế hoặc ức chế sự phát triển của vi sinh vật. Thực tế khi môi trường nuôi cấy nấm bệnh có sự hiện diện của B.subtilis với một số lượng lớn sẽ xảy ra sự cạnh tranh dinh dưỡng, cạnh tranh không gian sinh sống giữa vi khuẩn và nấm. Do vi khuẩn phát triển nhanh hơn (24 giờ) sẽ sử dụng phần lớn các chất dinh dưỡngtrong môi trường, đồng thời tạo ra một số loại kháng sinh nên sự sinh trưởng của nấm bị ức chế. Khả năng sinh enzyme B.
subtilis có khả năng sản sinh ra nhiều loại enzym ngoại bào có hoạt tính cao như: amylase, protease và cellulase… 1. Enzyme amylase Khi nuôi vi sinh vật tạo amylase có hai quá trình liên quan mật thiết với nhau: quá trình tổng hợp sinh khối vi sinh vật và quá trình tích tụ enzyme trong tế bào hay ngoài môi trường. Amylase là các enzyme xúc tác cho quá trình thủy phân tinh bột và các polyose tương tự như dextrin, glucogen. Ở vi khuẩn Bacillus enzyme chủ yếu trong DO.SUBTILIS nhóm này là α-amylase, α-amylase có khả năng thủy phân tinh bột mạnh và tạo thành những dextrin cao phân tử tạo màu với iot, α-amylase vi khuẩn được ổn định bằng ion canxi.
Phạm vi pH tác dụng tối thích là khoảng 6,5 – 7, α-amylase vi khuẩn bền vững với nhiệt độ cao và có thể giữ được hoạt tính ở cả nhiệt độ trên 70 oC. Nó có thể dịch hóa tinh bột nhanh ở 75 oC và thậm chí ở cả 100 oC. α-amylase xúc tác cho quá trình thủy phân liên kết α-1,4 glucozit nội mạch ở bất kỳ vị trí nào bên trong phân tử tinh bột với cơ chất là amylose. Với những tính chất này mà α-amylase của vi khuẩn được dùng để dịch hóa tinh bột, làm giảm độ nhớt của dịch hồ và chủ yếu trong chế biến dextrin.
Nó cũng được dùng phối hợp với glucoamylase sản xuất đường mật ngô và chocolate, trong sản xuất bia, với hỗn hợp đường để sản xuất thức ăn trẻ con, để sản xuất nước quả và được ứng dụng rộng rãi trong y học.subtilis được tạo thành ở vi khuẩn trong giai đoạn đã hoặc đang kết thúc quá trình sinh trưởng. Cả trong môi trường nuôi cấy lẫn trong bản thân tế bào vi khuẩn “trẻ” đều không tìm thấy amylase. Amylase ngoại bào được tổng hợp ở tế bào đang chuyển sang thời kỳ tự phân. Enzyme cellulase Cellulase là một phức hợp enzyme có tác dụng thủy phân cellulose thông qua việc thủy phân liên kết β – 1,4 – glucoside trong cellulose.
Cellulase có khả năng thủy phân cellulose thành đường. Nó có giá trị làm tăng tiêu hóa, nhưng với lượng lớn nó trở nên vô ích hay cản trở tiêu hóa. Enzyme protease Protease là nhóm enzyme thủy phân các liên kết peptit (-CO-NH-) trong phân tử protein hoặc các polypeptit. Protease có thể chia thành: proteinase và peptidase.
Proteinase thủy phân protein thành polypeptit, pepton. Chúng có tính đặc hiệu tương đối rộng. Tiếp theo đó là sự phân hủy các peptit có phân tử nhỏ này (pepton, polypeptit) thành các axit amin tự do dưới tác dụng của peptidase. Các peptitdase có tính đặc hiệu hơn, chúng chỉ tác dụng lên các liên kết peptit ở những vị trí nhất định.
Protease của vi khuẩn hoạt động chủ yếu ở vùng pH 7 – 9. Protease nói chung được dùng để nâng cao giá trị dinh dưỡng của thịt cá, thủy phân protein của sữa để chế những món ăn kiêng đặc biệt và được dùng trong thuộc da, chế bột giặt, phim ảnh, tơ sợi, len dạ, cũng như dùng trong y học. Protease vi sinh vật có thể sử dụng với amylase trong sản xuất thức ăn gia súc.SUBTILIS Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th. Giới thiệu chung về probiotic 1.
Định nghĩa Theo Fuller (1989), probiotic là chất bổ sung vi sinh vật sống vào thức ăn giúp cải thiện cân bằng của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa theo hướng có lợi cho vật chủ. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2001), probiotic là các vi sinh vật sống khi đưa vào cơ thể theo đường tiêu hóa với một số lượng đủ sẽ đem lại sức khỏe tốt cho vật chủ. Vai trò của probiotic 1. Tác động kháng khuẩn Giảm số lượng vi khuẩn để ngăn chặn các mầm bệnh cụ thể là: - Tiết ra các chất kháng khuẩn: Vi khuẩn Probiotic tạo ra các chất đa dạng có thể ức chế cả khuẩn Gram (+) và Gram (-), gồm có các acid hữu cơ, hydrogen peroxide và chất diệt khuẩn.
Những hợp chất này có thể làm giảm không chỉ những sinh vật mang mầm bệnh có thể sống được mà còn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của vi khuẩn và sự tạo ra các độc tố. Điều này được thực hiện bằng cách giảm pH khoang ruột thông qua sự tạo ra các acid béo chuỗi ngắn dễ bay hơi, chủ yếu là acetate, propionate, và butyrate, nhất là acid lactic. - Cạnh tranh với các nguồn bệnh để ngăn chặn sự bám dính vào đường ruột và cạnh tranh dinh dưỡng cần thiết cho sự sống sót của mầm bệnh. Tác động trên mô biểu bì ruột - Đẩy mạnh sự liên kết chặt giữa những tế bào biểu mô.
- Giảm việc kích thích bài tiết và những hậu quả do bị viêm của sự lây nhiễm vi khuẩn. - Đẩy mạnh sự tạo ra các phân tử phòng vệ như chất nhầy. Tác động miễn dịch Probiotic được xem như là phương tiện phân phát các phân tử kháng viêm cho đường ruột. Cụ thể: - Đẩy mạnh sự báo hiệu cho tế bào chủ để làm giảm đáp ứng viêm.
- Tạo đáp ứng miễn dịch để làm giảm dị ứng. - Cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, ngăn ngừa tiêu chảy và táo bón. Tác động đến vi khuẩn đường ruột Điều chỉnh thành phần cấu tạo của vi khuẩn đường ruột. Sự sống sót của probiotic được tiêu hóa ở những phần khác nhau của bộ phận tiêu hóa thì khác nhau giữa các giống.
Khi tập trung ở khoang ruột, chúng tạo nên sự cân bằng tạm thời DO.SUBTILIS của hệ sinh thái đường ruột, sự thay đổi này được nhận thấy một vài ngày sau khi bắt đầu tiêu thụ thực phẩm có probiotic, phụ thuộc vào công dụng và liều lượng của giống vi khuẩn. Kết quả chỉ ra rằng với sự tiêu thụ thường xuyên, vi khuẩn định cư một cách tạm thời trong ruột, một khi chấm dứt sự tiêu thụ thì số lượng vi sinh vật probiotic sẽ giảm xuống. Điều này thì đúng cho tất cả các loại probiotic. Vi khuẩn probiotic điều hòa hoạt động trao đổi chất của sinh vật đường ruột.
Probiotic có thể làm giảm pH của bộ phận tiêu hóa và có thể theo cách đó sẽ gây cản trở cho hoạt động tiết ra enzyme của sinh vật đường ruột. Đồng thời tăng sự dung nạp đường lactose: giúp tránh khỏi tình trạng đầy hơi, khó tiêu khi hấp thu những loại thức ăn có chứa nhiều lactose và làm tăng vi khuẩn có lợi và giảm vi khuẩn gây hại. Một số vai trò khác đối với cơ thể Chống dị ứng: thực phẩm probiotic góp phần chống lại một số dị ứng của cơ thể, cung cấp nhiều chất quan trọng cho cơ thể như (folic acid, niacin, riboflavin, vitamin B6 và B12). Chống ung thư: nhiều nghiên cứu cho thấy các vi khuẩn probiotic có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết và ung thư bàng quang.
Ngoài ra còn có tác dụng khử chất độc gây ung thư có trong cơ thể và làm chậm sự phát triển của các khối u bướu. Probiotic có tác dụng làm giảm nồng độ cholesterol trong huyết thanh, làm giảm huyết áp cao. Ngoài ra còn giúp nhanh chóng bình phục sau khi mắc bệnh tiêu chảy và sử dụng nhiều kháng sinh. Sơ lược về một số vi sinh vật gây bệnh trong chăn nuôi 1.
Đặc tính gây bệnh E.coli có sẵn trong ruột của động vật nhưng chỉ tác động gây bệnh khi sức đề kháng của con vật sút kém đi, lúc động vật gầy yếu, chăm sóc, quản lý chăn nuôi kém, bị cảm lạnh hay cảm nắng, bệnh giun sán.coli thường gây bệnh cho súc vật mới sinh từ 2 – 3 ngày tuổi có khi 4 – 8 ngày tuổi, gây bệnh đường ruột cho lợn con, gia cầm non. Ở động vật trưởng thành, E.coli có thể gây một số bệnh như viêm giác mạc, viêm gan, thận, bàng quang, túi mật… Trong phòng thí nghiệm, tiêm dưới da chuột lang, chuột bạch có thể gây viêm cục bộ, nếu liều lớn có thể sinh ra bại huyết gây chết cho con vật 1. Khả năng gây bệnh DO.SUBTILIS Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.coli gây bệnh tiêu chảy trên heo con theo heo mẹ hầu hết đều thuộc lớp sản sinh độc tố ruột.