Chương 1: Tổng quan bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Từ tiếng Latinh "Credere- Creditium," có nghĩa là "tin tưởng, tin cậy và tín nhiệm, là nguồn gốc bắt nguồn cho từ "tín dụng". Hay nói một cách khác, “Tín dụng là một phạm trù chỉ sự vận động đơn phương của giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khung thời gian cụ thể, trên cơ sở hứa hẹn hoàn trả bằng một lượng tiền cụ thể lớn hơn số tiền ban đầu”. Tín dụng là kết quả của sự chuyển giao giá trị có điều kiện, trong đó người cung cấp là chủ nợ và người nhận là con nợ (Mishkin Frederic, 2007). “Tín dụng chính là quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn nhau giữa người có vốn và người cần vốn dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Quan hệ giữa hai bên trong hoạt động tín dụng bị ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, đó là thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, các cam kết có điều kiện khác,. Các ngân hàng và các thành phần kinh tế khác tham gia vào mối quan hệ luân chuyển tài sản vốn được gọi là “tín dụng ngân hàng”, trong đó ngân hàng đồng thời vừa là người đi vay (huy động tiền từ công chúng để đầu tư vào nền kinh tế) vừa là người cho vay (sử dụng vốn huy động được để cho vay, cho người dân, dẫn vốn vào nền kinh tế). Đây là hình thức kết nối tín dụng gián tiếp, nơi người tiết kiệm đầu tư vào những việc mà nền kinh tế cần vốn thông qua chức năng trung gian của ngân hàng. Từ nghiên cứu trên, ta thấy rõ: Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thoả thuận cho phép người tiêu dùng sử dụng một tài sản (bằng tiền, bất động sản, danh tiếng) với nguyên tắc hoàn vốn thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các hoạt động tín dụng khác, bao gồm cả chiết khấu (tái chiết khấu).
Do đó, nội dung tín dụng được mở rộng hơn nội dung cho vay; Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, nó cho phép hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ lệ cao nhất tại các ngân hàng thương mại là đi vay (tín dụng tiền mặt). Do đó, các cụm từ "cho vay" và "tín dụng" đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau.2 Khái niệm rủi ro tín dụng 6 Mặc dù rủi ro tín dụng có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng trong nghiên cứu này, có thể định nghĩa nó là rủi ro mất mát tài chính (phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc Bên đi vay mất khả năng thanh toán hoặc không trả được nợ đúng hạn theo thỏa thuận Điều này có nghĩa là có rủi ro tín dụng nếu ngân hàng không thể thu được toàn bộ số tiền gốc, toàn bộ tiền lãi hoặc cả hai, hoặc nếu người vay không thanh toán khoản vay đúng hạn. Rủi ro tín dụng được định nghĩa là rủi ro người vay không trả được lãi, không trả được nợ gốc trong thời hạn quy định trong hợp đồng tín dụng. Do đó, có các vấn đề về dòng tiền và khả năng thanh khoản của ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến và Phạm Hữu Hồng Thái, 2014) Rủi ro tín dụng là khả năng người đi vay không thể trả lãi hoặc hoàn trả nguyên tắc trước hạn theo hợp đồng cho vay.
Điều này ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng và tạo ra các vấn đề về dòng tiền (Nguyễn Văn Tiến, 2010). Koch (1988), rủi ro tín dụng phát sinh khi khách hàng không thực hiện được, tức là khi khách hàng không trả gốc và lãi. Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả được nợ hoặc vỡ nợ có thể gây ra sự thay đổi trong thu nhập ròng và vốn hóa thị trường. Rủi ro tín dụng được Saunders và Lange (1999) định nghĩa là tổn thất có thể xảy ra khi ngân hàng mở rộng tín dụng cho khách hàng, hoặc khả năng xảy ra các dòng thu nhập được dự đoán không thể hoàn trả cả về số lượng và thời gian.
Theo đề án tái cơ cấu tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 254/QĐ-TTG ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực, rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã trở thành vấn đề đặc biệt được quan tâm trong xã hội. Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2007), việc người đi vay không thanh toán khoản vay kịp thời là rủi ro tín dụng. Tổn thất dự kiến đo lường rủi ro tín dụng và tạo nền tảng cho việc trích lập dự phòng (Basel của Ủy ban Giám sát Ngân hàng 2004). Theo Laeven Majnoni (2002), rủi ro tín dụng là tỷ lệ dự phòng rủi ro cho một khoản vay chia cho tổng tài sản của ngân hàng.
Hiện tại không có sự thống nhất giữa các học giả về cách tính toán rủi ro tín dụng. Ông cho rằng phần lớn tổng tài sản bao gồm số dư cho vay, do đó rủi ro có thể được xác định trực tiếp từ tổng giá trị tài sản. 7 Ông cho rằng, thay vì chỉ số tiền vay, toàn bộ tài sản của ngân hàng phải chịu tổn thất khi rủi ro tín dụng phát sinh. Trong một nghiên cứu khác của Jemenez và Saurian (2006), nhà nghiên cứu phải thu thập đủ dữ liệu để sử dụng phương pháp chia tỷ lệ nợ xấu cho toàn bộ dư nợ để xác định rủi ro tín dụng.
Các kết quả nghiên cứu đáng tin cậy đã được thực hiện kiểm định nợ xấu của các ngân hàng mới nổi. Hai phương pháp đề cập ở trên đã được tích hợp trong nghiên cứu của Hess và cộng sự (2008) để xác định rủi ro tín dụng. Những người đi vay thông thường không gặp rủi ro tín dụng trong năm đầu tiên đi vay, nhưng các khoản dự phòng được trích lập cho các khoản vay rủi ro từ những năm trước đó. Do đó, việc so sánh các khoản dự phòng với dư nợ cùng năm để đánh giá rủi ro là không phù hợp.
Vì vậy trong bài nghiên cứu này rủi ro tín dụng được xác định bằng cách chia số dư tín dụng từ năm t-1 cho số khoản dự phòng trong năm t. Tiêu chí đánh giá này xét đến vấn đề trích lập dự phòng rủi ro có thể xảy ra đối với từng dư nợ cho vay riêng lẻ, phản ánh rủi ro tín dụng một cách chính xác hơn. Nó cũng là một phương pháp rất thích hợp cho đo lường rủi ro tín dụng thông tin thu thập trong các ngân hàng Việt Nam. Chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phân loại dư nợ thành 5 nhóm.
Mặc dù các khoản vay từ nhóm 2 đến nhóm 5 phải được trích lập, nhưng định nghĩa nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2013) đã phân loại các khoản nợ này thuộc nhóm 3, 4 và 5. Phòng ngừa. Do đó, đối với vấn đề này, tác giả lựa chọn phương pháp đo lường rủi ro tín dụng được khuyến nghị bởi Daniel Foos và cộng sự (2010).3 Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được chia thành hai loại dựa trên bản chất của nó: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục đầu tư: Một loại rủi ro tín dụng được gọi là rủi ro giao dịch chủ yếu do các hạn chế trong quá trình giao dịch và thẩm định của khách hàng để phê duyệt khoản vay. Ba thành phần cơ bản của rủi ro giao dịch như sau: Rủi ro lựa chọn liên quan đến việc phân tích và đánh giá các khoản vay mà khách hàng đề ra.
8 Các yêu cầu và quy định của ngân hàng liên quan đến chủ thể bảo đảm, phương thức bảo đảm, giá trị tài sản thế chấp và bảo đảm theo giá trị khoản vay đối với khoản vay đều góp phần vào rủi ro bảo đảm. Rủi ro hoạt động là một loại rủi ro bao gồm rủi ro liên quan đến quản lý khoản vay, hoạt động sau cho vay, việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng và các phương pháp giải quyết các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục là một loại rủi ro tín dụng do ngân hàng không có khả năng quản lý danh mục cho vay của mình. Hai loại rủi ro danh mục đầu tư như sau: Rủi ro nội tại xuất phát từ các đặc điểm riêng của các chủ thể đi vay.
Điều này xuất phát từ thu nhập hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay. Rủi ro tập trung phát sinh khi một ngân hàng phân bổ quá nhiều vốn cho vay cho một nhóm khách hàng được chọn hoặc một nhóm khách hàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh tương tự. Nó cũng có thể xảy ra khi một ngân hàng cấp tín dụng quá mức cho một số khách hàng làm việc cùng nhau hoặc trong các lĩnh vực rủi ro cao như chứng khoán hoặc bất động sản.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng phát sinh do nhiều nguyên nhân, bao gồm một số nguyên nhân sau: Nguyên nhân từ phía người đi vay: Có hai nguyên nhân dẫn đến việc người đi vay không trả được nợ gốc và lãi cho ngân hàng là do: Nguyên nhân khách quan: là những yếu tố không lường trước được ảnh hưởng đến khách hàng như hỏa hoạn, thiên tai, thay đổi về kinh tế hoặc luật pháp, thay đổi tỷ giá hối đoái hoặc quy định xuất/nhập khẩu, v. Do chính sách thuế và động thái cung cầu của các mặt hàng mà khách hàng vay.
Nguyên nhân chủ quan: Vấn đề xuất phát từ các đặc điểm khách hàng khiến ngân hàng gặp rủi ro. Khách hàng vay tiền và sử dụng không đúng mục đích. Thay vì sử dụng vốn vay để hỗ trợ công ty và sản xuất, họ đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh có lợi nhuận cao nhưng rủi ro cao như bất động sản. chứng khoán, bất động sản,… Việc khách hàng không hợp tác hoặc không muốn trả lại ngân hàng sẽ khiến ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được nợ gốc và lãi cho khoản vay.
Nguyên nhân từ phía ngân hàng: 9 Yếu tố khách quan: Các ngân hàng trong nước chịu tác động đáng kể bởi các chính sách và quy định của Nhà nước về quản trị ngân hàng, chính sách tăng trưởng tín dụng định kỳ, chính sách tỷ giá hối đoái, quy định trích lập dự phòng khi cho vay và các chính sách khác của quốc gia và quốc tế. Các yếu tố chủ quan bao gồm: các ngân hàng không tuân thủ các quy định và thủ tục để đảm bảo an toàn trong cho vay.