CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK VÀ TINH HINH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH VAN HANH LIÊN HO CHỨA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1,1, TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH. VAN HANH LIEN HO CHỨA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Điều hành hệ thống hồ chứa đa mục tiêu với việc sử dung nước cho nhiều mục đích khác nhau đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong vài chục năm gần đây, Một ong những nguyên nhân chính sy mãn thuẫn cổ điển giữa kiểm soát lũ mục đích bảo toàn như cấp nước, sản xuất điện, tưới. Thông thường vin đề nay sinh trong việc sử dụng chiến lược phân phổi dé xác định dung tích phòng lũ <i hạn và xả nước ngắn hạn khi điều hành hệ thống trong mùa lũ, cũng như dim bio cắp nước trong mùa cạn.
'Các nghiên cứu vẻ quyết định dai hạn liên quan đến việc phân bổ dung tích có xét đến sự biển động của đồng chảy năm và các nguy cơ iên quan khác. Khi làm vige với một hồ chứa đơn, vấn đề này có thể được giải quyết bằng các phương pháp luận do Beard, Klemes, hay Duren và Beard. Việc phân bổ dung tích trong hệ thống đa hỗ chứa là bài toán phức tạp hơn nhiều vì tương tác giữa các lưu lượng thượng, hạ lưu cho toàn bộ hệ thông cần phải được xem xét. Kelman et all đề xuất phương pháp dựa trên khái niệm "điểu kiện kiếm soát được" Van hành hệ thống hệ thống hỗ chứa phục vụ đa mục tiêu là một quá trình phức tạp, bị chỉ phối bởi nhiều yếu tổ ngẫu nhiền, trong khi phải thỏa mãn các yêu như đối nghịch của các ngành ding nước nên mặc dù đã được đều tr nghiên cứu rất bài bản và chi tiết nhưng các ứng dụng thành công chủ yếu gắn liền với đặc thủ từng hệ thống, không có phương pháp luận, công cụ có thé dùng chung cho mọi hệ thống.
Có thé tôm tắt các phương pháp xây dựng quy trình vận hành hệ thống hỗ chứa thành ba nhóm chính như sau Tuận văn Thạc sĩ = Trang 6 1, Phương pháp mô phỏng. Mô hình mô phỏng trong điều hành hệ thống hồ chứa bao gồm tính toán cân bằng nước của đều vào, đầu ra hỗ chứa và biển đổi lượng tn. Kỹ thuật mô phỏng đã cung cấp cầu nổi từ các công cụ giải tích trước đây cho phân tích hệ thống hd chứa đến các tập hợp mục đích chung phức tạp. Các mô hình mô phòng cổ thể cung cấp các biểu diễn chỉ tiết và hiện thực hơn về hệ thống hồ chứa và quy tắc điều hành chúng.Thời gian yêu cầu để chuẩn bị đầu vào, chạy mô hình vả các yêu cầu tính.
toán khác của mô phẳng là ít hơn nhiễu so với mô hình tối wu hoá. Các kết quả mô phỏng sẽ đễ dàng thỏa hiệp trong trường hợp đa mục tiêu. Hầu hết các phần mềm mô phỏng có thể chạy trong máy vi tính cá nhân dang sử dụng rộng rãi n nay Hơn nữa, ngay sau khi s6 liệu yêu cầu cho phin mềm được chuẩn bị, nó dễ ding chuyển đổi cho nhau và do dé các kết quả của các thiết kể, quyết định điều hình, thiết kế lựa chọn khác nhau có thể được đánh giá nhanh chống. Có lẽ một trong số các mô hình mô phỏng hệ thống hồ chứa phổ biến rộng rãi nhất là mô hình HecResim, phát triển bởi Trung tâm kỹ thuật thủy văn Hoa Kj.
Một trong những mô hình mô phỏng nồi tếng khác là mô hình MIKE 11, Actes, tổng hợp dong chảy và điều tt hồ chữa (SSARR), mô phông hệ thống sóng tương tie (IRIS). Gói phần mềm phân tích quyền li các hộ sử dung nước (WRAP). Mặc di có sẵn một số các mô hình tổng quát, vẫn en thiết phải phát triển các mô hình mô phỏng cho một (hệ thống) hồ chứa cụ thể vi mỗi hệ thống hỗ chứa có những đặc diém riêng 2) Phương pháp tối wu Kỹ thuật tối ưu hoá bằng quy hoạch tuyển tinh và quy hoạch động đã được sử dung rộng rãi trong quy hoạch và quản lý tải nguyên nước. Nhiễu công trình nghiên cứu áp dụng kỹ thuật hệ thống cho bài ton tài nguyên nước Yeh (1985), Simonovie (1992) và Wurbs (1993).
Young (1967) lin đầu tiên đề xuất sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tinh để xây dựng quy te vận hành chung từ kết qu tối aru hoá. Phương phip mà ông đã đùng được gọi là “quy hoach động (DP) Monte- Carlo”. Về cơ bản phương pháp của ông đùng kỹ thuật Monte-Carlo tạo ra một số Luan văn Thạc sĩ = Trang 7= chuỗi đồng chảy nhân tạo. Quy trinh tối wu thu được của mỗi chuỗi dòng chảy nhân tạo sau đó được sử dụng trong phân tích hồi quy để có gắng xác định nhân tổ ảnh.
hưởng đến chiến thuật tối ưu. Các kết quả là một xắp xi tốt của quy trình tối ưu thực, Một mô hình quy hoạch để thiết kế hệ thống kiểm soát lũ hỗ chứa đa mục tiêu đã được phát hiển bởi Windsor (1975), Karamouz và Houek (1987) đã đề ra quy t vân hành chang khi sử dụng quy hoạch động và hồi quy. Mô hình DPR sử dụng hỏi quy tuyển tính nhiễu biến đã được Bhaskar và Whilach (1980) gợi ý. Một phương.
pháp khác xác định quy tình điều hành một hệ thông nhiều hồ chứa khác là quy hogsh động bắt định (Sochssie Dynamfc Programing— SDP), Phương pháp này yêu cầu mô tả rõ xác suất của dong chảy. và tổn thất. Phương pháp này được Butcher (1971), Louks và nnk (1981) và nh 1a người khác sử dụng, Mô hình tối ưu hoá thường được sử dụng trong nghiê! cứu điều hành hỗ chứa sử dụng dòng chảy 4 bảo như đầu vào. Datta vả Bunget (1984) để xuất một quy trình điều hành hạn ngắn cho hồ chứa đa mục tiêu từ một mô hình tối ưu hoá với mục tiêu cực tiểu hoá.
tôn thất han ngắn. Nghiên cứu chi ra rằng khi c6 một sự đánh đổi giữa một đơn vị lượng trữ và một đơn vị lượng xã từ các giá trị đích tương ứng thì phép giải tối ưu hoá phụ thuộc vio dang chảy tương la bắt định cũng như dạng him tên thất. Ap dạng mô hình tối ưu hoá cho điều hành hồ chứa đa mục tiê là khá khó khẩn. Sự khó khăn trong áp dụng bao gồm phát triển mô hình, đào tạo nhân lực, giái bài toán.
điều kiện thủy văn tương la bắt định, sự bắt lực để xác định và lượng hỏa tắt cả các mục tiêu và méi tương tác giữa nhà phân tích với người sử dụng. Một phương pháp. khác đang được sử dụng hiện nay để giải thích tinh ngẫu nhiên của đầu vio là logie mờ. Lý thuyết tập mở đã được Zadeth (1965) giới thiệu.
Nhiễu phần mềm vận hành wu hệ thống hỗ chứa đã được xây đựng, tuy nhiên khả năng giải qu toán thực tế vẫn còn hạn chế, Các phần mềm tối ưu hiện nay nói chung vẫn chỉ dena ra lồi giải cho những điều kiện đã biết mà không đưa ra được các nguyễn tắc vận hành hữu ích. Phần lớn các phản mềm vận hành hồ chứa được kết nối với mô hình. diễn toán 1a đựa trên mô hình Muskingum hay sóng động học như các phần mém thương mại ModSim, RiverWare, CalSim. Điều này rit hạn chế cho việc điều hành Luan văn Thạc sĩ = Trang 8 chống lũ và không áp dung được cho lưu vực có ảnh hưởng của hủy trigu hay nước vật, Các nghiên cứu mới nhất gan đây vẻ điều hành chống lũ cũng chỉ được áp dụng.
cho hệ thống một hỗ 3). Phương pháp kết hợp 'Wurb (1993) trong tổng quan về các nhóm mô hình chính sử dụng trong thiết lập quy trình vận hành hệ thống hồ chứa đã tổng kết "Mặc dù, di ưu hỏa và mổ phỏng là hai hướng tiếp cận mô hình hỏa khác nhau về đặc tỉnh, nhưng sự phâm bit rõ rằng gia hai hướng này là khó vì hau hết các mô hành, xét về mức độ nào đồ đầu chúu các thành phần của hai hướng tiếp côn trên". Wlutb cũng đề cập đến nhóm Quy hoạch mang lưới ding (Network Flow Programming) như là một kết hợp hoàn thiện của hai hướng tiếp cận tối ưu và mô phỏng. Trong các quy trinh tối ưa phục vụ bài toán liên hỗ chứa (Labadie, 1004) thì cả hai nhóm quy hoạch ấn bit định (Implicit stochastic optimization) vả quy hoạch hiện bất định (Explicit stochastic optimization) đều cần có mô hình mô phỏng dé kiểm tra các quy trình tối anu được thiết lập Tóm lại, phương pháp mô phỏng vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong phân tích vận hành hệ thông hỗ chứa và cho kết quả hoàn toàn chấp nhận được.
Trong hầu hết các bài toán cụ thể thi mô hình mô phỏng cũng không th thiểu trong việc xây dựng các quy trình vận hành liên hỗ chứa. Tình hình nghiên cứu trong nước Mot số lượng lớn các hd chứa được xây dựng ở Việt Nam trong vài thập kỷ sẵn diy, Không d ê phủ nhận hệ thống hỗ chứa đóng vai ud quan trọng ong nén Kinh tế quốc dan, tuy nhiên theo một số đánh giá thì rất nhiều hệ thống hd chứa lớn đã không đem lại hiệu ích kinh tổ, môi trường như đã được đánh giá rong «qué tình lập dự ấn. Lý do phát huy hiệu quả kém có thể do trong giai đoạn thiết kế không chú ý day đủ đến chế độ quản lý vận hành sau khi dự án hoàn tat, không lường trước được các yêu cầu, mục tiêu này sinh rong quế tình vận ah hệ thống sau khí hoàn dl nh. Ví dụ như các yêu cầu về cấp nước sinh host, công Luan văn Thạc sĩ = Trang 9 nghiệp, yêu cầu duy t đồng chấy môi tường sông, duy tì sinh thi vàng hạ lưu.
Mâu thu này sinh giữa các mục tiêu sử dụng nước có thé coi là nguyên nhân chính dẫn đến kém hiệu quả trong vận hành khai thác hệ thống hỗ chứa. Vận hành hệ thống liên hỗ chứa ở Việt Nam nói chung mới bắt đầu được tập trung nghiên cứu. Một số nghiên cứu liên quan đã được các cơ quan nghiên cứu được tiễn bảnh chủ yéu tập trung vào nhiệm vụ chẳng lũ. Một số nghiên cứu vận hành hỗ điều tiết cấp nước mới tập trung vào các mye tiêu cấp nước đơn lẻ.
Đặc biệt, ede nghiên cứu chưa mang tinh hệ thông hồn hồ, và phục vụ đa mục tiền Hiện nay, ở Việt Nam các hồ chứa trên các hệ thống sông đã và đang được. tiến hành nghiên cứu, xây dựng quy tri liên hi, phục vụ đa mục tiêu, như hệ thống hỗ chứa trên sông Hồng, sông Ba, sông Sẽ San, sông Đông Nai, sông Vu Gia ~ Thu Bổn và sông Srépok v.