ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, đời sống con người ngày càng được nâng cao, cả về mặt vật chất và tinh thần. Nhu cầu thưởng thức cái đẹp, đặc biệt cái đẹp đến từ thiên nhiên, cỏ cây hoa lá dần đi vào đời sống mỗi người dân. Từ xa xưa, chơi hoa, trồng hoa và thưởng thức hoa đã được coi là một thú vui nghệ thuật độc đáo và thú vị. Ngày nay, nghề trồng hoa và kinh doanh hoa đang ngày càng được chú tâm và phát triển bởi nó không chỉ bó hẹp trong giá trị thưởng thức mà còn mang lại giá trị kinh tế rất cao.
Phong lan là một trong những loài hoa có chất lượng cao, giá trị kinh tế lớn, được nhiều người yêu thích bởi có hoa đẹp, cấu trúc hoa kiêu kỳ, phức tạp. Hơn nữa, màu sắc hoa vô cùng phong phú, hương thơm quyến rũ, thời gian chơi dài,… có lẽ cũng bởi vậy mà phong lan được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa! Nhờ quá trình sưu tầm các loài lan đẹp, lạ mắt và các kỹ thuật lai tạo ra các thứ lan mới, số loài hoa lan hiện nay trên thế giới có thể đã lên đến 100 ngàn loài. Vì thế, trong thời gian gần đây, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thú chơi lan đã trở thành thông dụng và có điều kiện hơn, không phân biệt địa vị, tuổi tác, hoàn cảnh kinh tế. Số người chơi và yêu chuộng hoa lan ngày càng tăng, hay nói cách khác, nhu cầu sử dụng các chủng loại lan đã và đang tăng.
Hoa lan hiện đang được trồng và kinh doanh với 3 kiểu dáng: hoa cắt cành, cây đã thành thục trong chậu treo hay bám trên giá thể và cây lan con từ 10-15 cm. Hoàng thảo Vôi đỏ D.jan orinstein red and white là giống lan mới được các nhà khoa học Nhật Bản lai tạo từ hai cây lan Den.aphyllum và Den.Đáng chú ý hơn là cả hai cây bố mẹ này đều phân bố ở Việt Nam nhưng hiện nay xuất hiện rất thưa thớt trên thị trường và tương đối hiếm trong tự nhiên.jan orinstein được các nhà vườn Đài Loan nhân rộng và nhanh chóng chinh phục thị trường bởi vẻ đẹp cuốn hút với những ngồng hoa dài buông thõng mềm mại, màu sắc tươi sáng. Bên cạnh đó, hương thơm và độ bền hoa cũng làm cho giá trị của chúng vượt xa các cây lan khác, đem lại nguồn lợi nhuận to lớn cho các nhà vườn với giá thành mỗi nhánh trưởng thành lên tới hàng triệu đồng. Với mục tiêu đưa giống lan quý có nguồn gốc Việt Nam này trở về thị trường Việt Nam, khắc phục tình trạng phụ thuộc nguồn giống từ nước ngoài, đồng thời 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góp phần đa dạng nguồn gen in vitro các giống hoa lan, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân nhanh in vitro giống lan nhập nội hoàng thảo Vôi đỏ D.jan orinstein red and white”.
MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích a) Xây dựng được quy trình nhân nhanh giống lan Hoàng thảo Vôi đỏ bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Yêu cầu b) Tạo được nguồn vật liệu ban đầu. c) Xác định được phương thức và môi trường nuôi cấy phù hợp trong giai đoạn nhân nhanh protocorm.
d) Xác định môi trường phù hợp trong giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh. e) Xác định phương pháp huấn luyện phù hợp khi đưa cây ra vườn ươm 1. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân nhanh giống lan Hoàng thảo Vôi đỏ trong điều kiện in vitro, góp phần bảo vệ, lưu giữ giống lan quý và giải quyết khó khăn về nguồn cung ứng giống cây cho thị trường. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ, PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ CỦA PHONG LAN Cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông. Theo tác giả Bretchacidor thì từ đời vua Thần Nông (2800 TCN) ở Trung Quốc, loài lan rừng đã được dùng làm thuốc chữa bệnh. Sau đó cùng với vẻ đẹp và hương thơm của nó kết hợp với công dụng chữa bệnh nên loài này đã có mặt ở châu Âu.
Tại đây, người ta đã tiến hành nghiên cứu khá công phu và tỉ mỉ. Pharatus (376-285 TCN) được coi là cha đẻ của ngành lan học, vì ông là người đầu tiên dùng từ Orchids để chỉ một loài hoa lan củ tròn. Sau đó là Linne (1707 - 1778) và Robiet Bron (1773 - 1858) là những người đầu tiên phân biệt rõ ràng họ lan và các họ thực vật khác. Còn người đặt nền tảng cho môn học về hoa lan là Joanlind (1779 - 1885).
Năm 1836, ông công bố tài liệu (A Tabuler View of the Tribes of Orchidea) để sắp xếp loài và chi thuộc họ lan. Tên của họ lan do ông đưa ra được dùng đến ngày nay (dẫn theo Trần Hợp, 1990). Ở Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm, có lẽ người đầu tiên khảo sát về lan là nhà truyền giáo Bồ Đào Nha Joanisde Loureiro, ông đã mô tả cây lan Việt Nam trong cuốn “Flora de cochin chinesis” (1789). Năm 1972, Phạm Hoàng Hộ trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II) đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1993).
Năm 1992, Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn “Hoa lan tại Đông Dương” gồm 200 giống và 2000 loài, trong đó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam. Theo Phạm Hoàng Hộ (1993), Việt Nam có tới 755 loài lan. Trên khắp trái đất, hầu như nơi nào có thực vật là có phong lan nhưng số lượng nhiều ít khác nhau liên quan mật thiết đến độ cao. Mỗi loài có một cách phân bố và phát triển rất riêng biệt về kiểu dáng và kích cỡ, sự khác biệt đó không chỉ vì xuất xứ từ các lục địa khác nhau mà còn có khi ở ngay trong một vùng địa lý vài kilomet vuông.
Về lịch sử phân loại, họ lan đến nay đã được biết khoảng 200 năm. Theo hệ thống phân loại thực vật, cây hoa lan thuộc họ lan (Orchidaceae), bộ lan (Orchidales), phân lớp hành (Lilidae), lớp một lá mầm (Monocotyledonae), ngành ngọc lan - thực vật hạt kín (Magnoliophyta) (Trần Hợp, 1990; Nguyễn Tiến Bân, 1997). 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước kia, họ phong lan được chia làm 3 họ phụ (Orchidadeae, Cypripedicideae, Apostasiscideae). Gần đây, do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia họ phong lan thành 6 họ phụ (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997): Apostasiscideae Orchidadeae Cypripedicideae Epidendroideae Neottioideae Vandoideae Cả 6 họ phụ này đều phổ biến rộng rãi trên trái đất.
Họ lan của Việt Nam cũng khá phong phú. Theo thống kê sơ bộ gần đây ở nước ta có khoảng 152 chi và 897 loài. Đây là một thế mạnh tự nhiên, làm cơ sở cho phát triển ngành trồng lan nước nhà. Mặc dù vậy, việc phân loại thực vật nói chung và lan nói riêng là hết sức phức tạp, cho đến nay chưa có các khóa phân loại cho các đơn vị dưới loài, trong khi đó việc làm này lại hết sức quan trọng, nhất là trong công tác chọn giống cây trồng (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).
Về giá trị của cây phong lan, trước hết phải kể đến giá trị trên phương diện thẩm mỹ và kinh tế. Hoa lan được nhiều người yêu thích, bởi lẽ đây là loài hoa có cấu trúc rất kiêu kỳ và phức tạp, những trạm trổ rất tinh vi, đặc biệt ở bộ phận môi. Màu sắc của hoa được pha trộn một cách hài hòa, cân đối, lắm khi lại hiện lên những nét tương phản rõ rệt, hay chìm lắng và cuốn hút. Khác với các loài ký sinh thông thường có tác động hủy hoại ký chủ, đa số các loài lan có lối sống phụ sinh chỉ xem cây chủ làm giá thể.
Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã dùng cây lan biểu hiện cho người quân tử “Mai, Lan, Cúc, Trúc”, một đạo đức cao quý của dân tộc Việt Nam. Về mặt kinh tế, người ta đã thống kê, ở các nước xuất khẩu hoa lớn như Thái Lan, Đài Loan, Hà Lan, Úc, Nhật Bản,…doanh thu từ lan đạt vài trăm triệu USD/ năm. Còn ở Việt Nam, theo các chuyên gia về lan, nghề trồng lan sẽ đem lại một lợi nhuận không nhỏ cho người dân. Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nếu trồng phong lan cắt cành loài Dendrobium và Mokara, mỗi ha đất trồng có thể cho thu nhập 500 triệu - 1 tỷ đồng/năm, cao hơn nhiều lần so với trồng lúa và một số hoa màu khác.
Ngoài phương diện thẩm mỹ và kinh tế, cây lan còn có nhiều giá trị khác. Với giống Anoectochilus còn gọi là “Jewel Orchids” thì lá được dùng làm rau, 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một món ăn quen thuộc của người Mã Lai và Indonesia. Trong số các loại thuộc giống Blettia, Cattleya, Renanthera, giả hành và lá được dùng làm trà và thuốc. Thổ dân Niu Ghinê dùng Dendrobium utile để dệt làm kiềng đeo tay như một thứ đồ trang sức,.
Một số loài trong chi lan Hoàng thảo (Dendrobium) dùng làm thuốc chữa sốt nóng, kém ăn, khô cổ, giảm thị lực,… vì chúng chứa nhiều alkaloid có giá trị chữa bệnh. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CHI LAN HOÀNG THẢO 2. Rễ Sự đa dạng về hình thái cấu trúc rễ đã làm cho chi lan Hoàng thảo phù hợp với điều kiện sống như khi sống trong đất thì rễ mập, thân rễ bò dài (Trần Hợp, 2000). Rễ của các đại diện chi Hoàng thảo là rễ khí sinh, thường mảnh, hình trụ, màu xanh và chuyển thành nâu khi già, chúng thường ôm lấy giá thể hoặc buông thõng xuống.
Ở một số loài sống bám lơ lửng trên vỉ thân cây gỗ làm nhiệm vụ lấy nước, muối khoáng, hấp thu dinh dưỡng, chúng đđầy không khí do đó nó ánh lên màu xám bạc. Chiều dài rễ từ 0,1 - 0,3 cm, rễ thường mọc ra từ phần gốc của thân hoặc đôi khi có thể ở mấu thân của một vài loài (D. Thân Các đại diện của chi Hoàng thảo rất dễ nhận biết ngoài thiên nhiên. Đó là các cây thân thảo mọc cụm, đứng thẳng hoặc rủ thõng, phân đốt, sống phụ sinh trên các cây gỗ hoặc một số sống bám trên đá, trong rừng ẩm.
Chi lan Hoàng thảo thuộc nhóm đa thân (sympodial) với nhiều giả hành. Đây là nhóm bao gồm các cây tăng trưởng liên tục nhưng có chu kỳ nghỉ sau những mùa sinh trưởng.