mở đầu AUG khác nhau [80]. Trong khi L HBsAg có vai trò chính trong liên kết với các thụ thể được dịch mã từ mRNA preS1 có chứa các domain preS1, preS2 và S; protein M và L-HBsAg được dịch mã từ mRNA preS2/S và mRNA S [13, 15, 94]. Hình 2: Sơ đồ cấu trúc bộ gen của HBV [46]. Chu trình nhân lên của virus a.
Hấp phụ Quá trình hấp phụ là một quá trình quan trọng thể hiện rõ tính đặc trưng và biên độ của tế bào gan, được xác định bởi yêu cầu của các yếu tố phiên mã được làm giàu trong tế bào gan như đã nhắc đến ở phần trên và sự biểu hiện trong tế bào gan của người. Domain preS1 của protein vỏ L là yếu tố chính trong liên kết với thụ thể 11 trên tế bào gan [114]. Thụ thể được xác định có tên là NTCP (sodium taurocholate cotransporting polypeptide) [2]. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng NTCP vốn có vai trò vận chuyển muối mật trong cơ thể được biểu hiện chính ở trong gan, và một số các chất chuyển xuyên màng, còn là một thụ thể cho quá trình hấp phụ HBV vào tế bào gan.
Quá trình gây nhiễm của HBV có thể bị ức chế trong tế bào gan của người bằng cách làm NTCP trở nên “im lặng” [114]. NTCP còn được biết đến với cái tên SLC10A1 (Solute carrier family 10A1) là một thành phần trong họ chất chuyển SLC10 [110]. NTCP thường khu trú ở màng đáy của tế bào gan và có vai trò chính trong vận chuyển muối mật từ hệ tuần hoàn vào gan [110]. L-HBsAg của virus liên kết đặc hiệu với thụ thể preS1 đặc hiệu với virus và bước này cần sự hoạt hóa của virus dẫn đến sự lộ ra đầu N-terminal của L-protein trên bề mặt virus [100].
Vùng từ aa thứ 2 đến aa thứ 48 của preS1 của protein L-HBs có vai trò chính trong quá trình phát triển nhiễm HBV [110, 114]. Gần đây, FTL (ferritin light chain) và kháng nguyên 1 của ung thư biểu mô tế bào vảy (SCCA1) đã được xác định là các đồng thụ thể tham gia vào quá trình hấp phụ của HBV vào tế bào gan [15]. Xâm nhập và loại bỏ vỏ virus Virus HBV có thể xâm nhập vào tế bào chủ bằng nhiều cơ chế khác nhau, bằng cả con đường nhập bào và hòa trộn màng tế bào của vỏ virus [100]. Sau khi liên kết với thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào, virrion sẽ xâm nhập vào tế bào gan nhờ các yếu tố của tế bào vật chủ bằng con đường nhập bào [15].
Quá trình nhập bào của virus xảy ra thông qua trung gian Clathrin [28]. Capsid của virus cũng sẽ xâm nhập vào tế bào chất khi vỏ virus hòa trộn với màng tế bào sau khi nhập bào [3, 100]. Tuy nhiên, cơ chế loại bỏ vỏ virus và sự di chuyển của nucleocapsid đến lỗ nhân vẫn còn chưa được chứng minh. Những yếu tố vận chuyển như importin alpha và beta và nucleoporin 153 sẽ đảm bảo cho việc nucleocapsid được chuyển đến nhân tế bào [75, 81].
Sự phân tán của nucleocapsid dẫn tới sự giải phóng ra nhân sinh chất của rcDNA virus với polymerase được liên kết cộng hóa trị với rcDNA. Quá trình phiên mã/dịch mã Sau khi hệ gen rcDNA của virus được giải phóng vào nhân của tế bào gan, enzyme polymerase của virus sẽ bắt đầu tiến hành quá trình sửa chữa nhằm hoàn thành sợi dương chưa được tổng hợp đầy đủ của virus HBV. Enzyme này nằm ở đầu 5’ sợi âm được sử dụng cho quá trình tổng hợp sợi dương. Một đoạn RNA ngắn có chức năng như một đoạn mồi cũng là một thành phần tham gia vào quá trình tổng hợp sợi dương.
Hai thành phần này sau khi tổng hợp sẽ bị các enzyme của tế bào chủ loại bỏ ví dụ như proteinase [100]. Một khi quá trình tổng hợp sợi dương hoàn thành, nó sẽ đi cùng với sợi âm và được liên kết bởi liên kết cộng hóa trị ở hai đầu và hình thành nên cấu trúc siêu xoắn dạng vòng [120]. DNA này còn được gọi là cccDNA (closed convalent ciruclar DNA). Các phân tử cccDNA có chứa protein giống và không giống histone, và DNA có cấu trúc giống như các hạt có cấu trúc như chất nhiễm sắc xếp hàng trên một cái dây.
Chúng được gọi là các tiểu nhiễm sắc thể được sử dụng làm khuôn cho quá trình phiên mã cho tất cả các mRNA của virus [13, 100]. Sự xuất hiện của cccDNA trong tế bào gan bị nhiễm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì tình trạng mạn tính của nhiễm HBV hay sự tái phát của bệnh. Sau khi rcDNA được tổng hợp hoàn toàn và tồn tại trong nhân ở dạng cccDNA, cccDNA sẽ sử dụng tất cả cơ chế phiên mã của tế bào (enzyme RNA polymerase II) để tạo ra các protein để thực hiện tất cả các quá trình cần thiết cho virus như sinh tổng hợp và nhân lên của hệ gen virus. Quá trình phiên mã được điều hòa bởi các yếu tố phiên mã của tế bào vật chủ (CREB, STAT1, STAT2,.), enzyme biến đổi chất nhiễm sắc (PCAF, HDAC1,.), các yếu tố nhân của tế bào gan, và các yếu tố của virus như protein lõi, protein điều hòa X [100, 120].
Các yếu tố này góp phần điều hòa biểu hiện gen của virus bằng cách tương tác với promoter của 4 vùng ORF chính trong hệ gen virus [100]. Có một số báo cáo đã chỉ ra rằng quá trình phiên mã được điều hòa bởi các cơ chế biến đổi di truyền ngoại gen (epigenetic) như methyl hóa cccDNA, acetyl hóa histone,. Sau khi tổng hợp ra các sản phẩm phiên mã là các mRNA (cùng pgRNA) có chiều dài khác nhau, chúng sẽ được vận chuyển ra tế bào chất để dịch mã ra các protein cần thiết cho virus như đã miêu tả ở phần trên. Quá trình đóng gói PgRNA ngoài chức năng làm mạch khuôn cho tổng hợp protein lõi và polymerase còn được sử dụng làm khuôn trong tổng hợp DNA qua quá trình phiên mã ngược.
RNA này sẽ có chiều dài dài hơn hệ gen của virus do có một đoạn trình tự thừa R (redundant) dư ở hai đầu trình tự dẫn đến quá trình đọc sẽ vượt qua điểm khởi đầu phiên mã khoảng 120 nu và kết thúc với đuôi poly-A. Đoạn dư này có chứa hai bản bản sao của DR1 (direct repeat 1) và ở đầu 5’ có một tín hiệu “ε” rất chuyên biệt cho HBV để khởi phát quá trình bao bọc (encapsidation) cấu trúc pgRNA và enzyme polymerase bằng các protein capsid [41, 88]. Quá trình đóng gói pgRNA vào nucleocapsid là bước tiếp theo trong chu trình của virus và bao gồm một chuỗi các cơ chế sử dụng các tác nhân của cả virus và tế bào vật chủ. Polymerase có ba vùng chức năng, mỗi vùng tương ứng với các chức năng liên kết với mồi của DNA, phiên mã ngược (rt) và phân hủy pgRNA (RNase H).
Terminal protein được phân chia từ vùng rt bằng vùng đệm vẫn chưa rõ chức năng. Polymerase liên kết với tín hiệu “ε” ở đầu 5’ của pgRNA, một cơ chế bao gồm sự kích hoạt quá trình đóng gói của phức hợp được tạo thành bởi protein lõi. Trình tự C-terminus của protein lõi, như được đề cập ở trên là vùng giàu arginine và phosphoryl hóa các aa, cũng liên quan đến quá trình liên kết của pgRNA do quá trình đóng gói được kích hoạt. Protein lõi còn liên quan đến sự khởi đầu quá trình phiên mã ngược, đóng gói nucleocapsid [121].
Bước tiếp theo là quá trình tổng hợp vật chất di truyền của virus được thực hiện trong nucleocapsid. Cấu trúc “ε” có một cấu trúc đặc biệt giúp tổng hợp đoạn mồi bao gồm 4 nu [63], được liên kết cộng hóa trị với vùng TP của polymerase thông qua liên kết phosphodiester giữa dTTP và nhóm hydroxyl của aa tyrosine trên terminal protein (vị trí 63) [111, 123]. Phức hợp mồi - polymerase sẽ được dịch chuyển đến đầu 5’ của pgRNA, nơi mà phức hợp này sẽ lai với vùng DR1 với trình tự mồi tương đồng. Quá trình dịch chuyển đến đúng vị trí, như trường hợp này DR1 nằm ở đầu 3’ của pgRNA, được hỗ trợ bởi hai thành phần ω và φ, hai thành phần này sẽ tương tác với tín hiệu ε [90].
Quá trình tổng hợp sợi âm được khởi đầu bằng quá 14 trình phiên mã ngược ở đầu 5’ của pgRNA, có đoạn thừa khoảng 10 nu. Mạch khuôn RNA cùng lúc đó sẽ bị hoạt tính của RNase H phân hủy dần, ngoại trừ 11-16 nu cuối cùng sẽ được chuyển sang vùng DR1 của đầu 5’ của pgRNA. Đoạn ribonucleic này sẽ được sử dụng là đoạn mồi cho quá trình tổng hợp sợi dương cho hệ gen virus [25]. Đoạn mồi này sẽ lai với trình tự tương đồng trên DR2 ở đầu 5’ của sợi âm mới tổng hợp và một quá trình chuyển dịch mới được diễn ra.
Sợi dương mới được tổng hợp sẽ được tiếp tục cho đến đầu 5’ của sợi âm DNA. Quá trình tổng hợp cả hai sợi DNA xảy ra trong nucleocapsid và quá trình này được tạo điều kiện bởi lỗ trên các capsid cho phép các nucleotide di chuyển vào trong. Tuy nhiên, một khi nucleocapsid trưởng thành được nảy chồi qua màng ER, nguồn nucleotide trong capsid sẽ bị cạn kiệt và để lại sợi dương có chiều dài không hoàn chỉnh, đó là nguyên nhân tạo nên hệ gen là DNA sợi đôi không hoàn chỉnh của virus HBV [61]. Tạo hạt virus hoàn chỉnh Nucleocapsid hoàn chỉnh là các nucleocapsid có chứa rcDNA với một phần sợi đôi mới được tổng hợp với enzyme polymerase gắn vào đầu 5’ của DNA sợi âm.
Sau khi hoàn thành, nucleocapsid này sẽ được di chuyển theo hai con đường. Trước khi đạt được lượng HBsAg đủ để gây nhiễm, các nucleocapsid sẽ được đưa trở lại nhân để làm giàu lượng cccDNA có trong nhân [45, 72]. Ở giai đoạn cuối của biến đổi hình thái, virion sẽ nảy chồi qua màng ER nơi protein HBsAg đã khu trú sẵn trong lumen [17]. Một yếu tố quyết định của những quá trình này đó chính là sự biến đổi hình thái và sắp xếp lại cấu trúc của L-HBsAg.
Rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy một nửa protein này nằm ở phía trong tế bào chất của ER với đầu N-terminus, từ đó liên kết với nucleocapsid để nảy chồi. L-HBsAg với đầu tận cùng nằm trong lumen cho phép protein này hiện diện trên bề mặt của virion và do đó virus có thể dễ dàng tiếp cận thụ thể NTCP trong quá trình xâm nhập vào tế bào gan [5]. Quá trình giải phóng virus Giả thiết cho rằng protein HBsAg tích tụ trong khoảng trung gian giữa ER - phức hệ Golgi, virion sẽ được tích tụ trong lumen và theo con đường bài tiết trong 15 suốt quá trình thoát ra của tế bào, giống như con đường mà các tiểu thể của virus được giải phóng.