Chương 1: TONG QUAN 1. Tông quan về cu ngai bún 1. Danh pháp, mô tả, phân bồ Cây ngai bún có tên khoa học là Boesenbergia pandurata Roxb. Ngoài ra, cây ngải bún còn có tên khác là củ ngải, bồng nga truật,.
Phân loại khoa hoc được trình bày ở Bảng 1. Phan loại khoa học của cây ngai bún GIới Plantae (Thực vật) Ngành Angioperms (Thực vật hat kín) Lớp Monocots (Thực vật một lá mâm) Phân lớp Commelinids (Thai lài) Bộ Zingiberales (Gừng) Họ Zingiberaceae (Gừng) Chì Boesenbergia Loài B. pandurata Cây ngai bún là cây thân thao, mọc từng cu dài, kêt chùm. Củ non có mau trăng, củ già màu vàng nhạt.
Lá có phiến, gân lá đối xứng. Cây có ít hoa, thường phát triển ở nách lá. Hoa có dạng ống, có màu hồng [1]. (b) (c) (a) cu (b) hoa (c) cây Cây ngải bún được trông nhiêu ở một sô nước nhiệt đới bao gôm Myanmar, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam,.
Việt Nam, cây được trông nhiêu ở các tỉnh phía Nam, chủ yếu ở An Giang, Trà Vinh,. Thành phần hóa học Bảng 1. Công thức hóa học một số hợp chất có trong ngải bún [3-7] Công thức RI R2 R3 R4 Tên hợp chất Rg Rg OCH3 OH H H Pinostrobin Ry O ` OH OH H H Pinocembrin Ra O Ry (Ồ Re S Rs OCH3 OH H H Pinostrobinchalcone SS R4 ; OH O OH OCH3 H H Cardamonin H OCH3 H H 5,7-Dimethoxyflavone 5,7 A’- H OCHs H OCHs Trimethoxyflavone 5,73'4- H OCH3 LOCH: | OCHs Tetramethoxyflavone 5-Hydroxy-3,7 OCHs OH H H dimethoxyflavone Rs OCH3 OH H Panduratin A OH OH H +Hydrepanduain OH OCH3 | OH Panduratin C Isopanduratin A Isopanduratin Al Panduratin B Hiện nay các nhà khoa học đã phân lập rất nhiều hợp chất có trong củ ngải bún. Tại Thái Lan, đã phân lập được 5 hợp chất từ củ ngải bún bao gồm pinostrobin, pinocembrin, pinostrobin chalcone, cardamonin và boesenbergin A [3].
Cùng với các hợp chat flavone bao gồm 5,7-dimethoxyflavone, 5,7,4'- trimethoxyflavone, 5,7,3’,4’-tetramethoxyflavone, 5-hydroxy-3,7-dimethoxyflavone, 3,5,/-trimethoxyflavone, 5-hydroxy-3,7,4’-trimethoxyflavone và 5-hydroxy-3,7,3’,4'- tetramethoxyflavone [4]. Qua nghiên cứu quang pho đã xác định được thêm panduratin BI, panduratin B2, panduratin B [5]. Tai Indonesia các nhà khoa học cũng phân lập được isopanduratin A, isopanduratin Al [6]. Trong khi ở Myanmar, các nhà khoa hoc cũng đã cô lập được một số hợp như boesenbergin A, pinostrobin, pinocembrin, panduratin A, panduratin C, cardamonin, 4- hydroxypanduratin A [7].
Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của PGS. Nguyễn Trung Nhân đã phân lập và định lượng được một sỐ hợp chất có trong củ ngai bún [8]. Hàm lượng các hợp chat trong cao ethanol củ ngải bún Hợp chất Hàm lượng (%) Pinostropin 18. Hoat tinh sinh hoc O Việt Nam, cu ngai bún được sử dung dé tri hen suyễn, tiêu chảy, khó tiêu, ngứa, sốt, loét, khô miệng, đau dạ dày,.
Ở Thái Lan, củ ngải bún có tên là “kra - chai”, được dùng điều trị bệnh hen suyén, tiêu chảy, chống ung thư, các chứng đây bụng khó tiêu,. O Indonesia, củ ngai bun có tên la “kunci pepef”, có thé chữa ho khan [9] Với các hợp chất phân lập được các nhà khoa học đã có những nghiên cứu hoạt tính sinh học của các chât này và cho kêt quả như sau: Năm 2002, Tuchinda và cộng sự đã tiễn hành thử nghiệm chồng viêm trên tai bi phù nề ở chuột, cho thay 4-hydroxypanduratin A và panduratin A có khả năng ức chế mạnh chứng viêm tai với giá tri [Dzo lần lượt là 84 và 12 pm/tai [10]. Năm 2009, Tewtrakul và cộng sự tiễn hành thử nghiệm hoạt tính ức chế sự hình thành nitric oxide NO với ICzo của hydroxypanduratin A, panduratin A lần lượt là 13.3 mM và ức chế mạnh sự hình thành PGE2 với giá tri ICso lần lượt là 12. Năm 2005, Sohn và cộng sự tién hành thử nghiệm kha năng kháng oxy hóa và ức chế tert-butylhydroperoxide (t-BHP) - gây độc cho dòng tế bào gan ở người (HepG2).
Kết quả cho thay panduratin A ức chế mạnh t-BHP rõ rệt ở nồng độ 17. Năm 2006, Kirana và các cộng sự đã thử nghiệm và cho kêt quả là chiết xuất ethanol của củ ngải bún cho thay tác dụng ức chế mạnh sự tăng trưởng của tế bào ung thư. Trong đó, Panduratin A được phân lập từ củ ngải bún đã được tìm thấy có hoạt tính ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú MCF-7 ở người và tế bao ung thư tuyến ruột kết HT-29 ở người với ICso lần lượt là 3. Năm 2008, Win và cộng sự báo cáo việc xác định các chất phân lập mới sử dụng phân tích quang pho va thử nghiệm in vitro gây độc tế bào tế bao ung thư tuyến tụy PANC-1 ở người.
Panduratin A và nicolaioidesin B đã được tìm thấy là các thành phan mạnh nhất có PC¡oo là 2. Năm 2016, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Trung Nhân qua quá trình sàng lọc các được liệu đã tìm thấy củ ngải bún (Boesenbergia pandurata Roxb. Schltr) có khả năng ức chế dòng tế nào ung thư tuyến tụy PANC-1 rất mạnh, đặc biệt với giá tri PCso = 6.mL! (môi trường thiếu dinh dưỡng) và PCso = 51. Tổng quan về cà gai leo 1.
Danh pháp, mô ta, phân bồ Ca gai leo còn có tên gọi khác là cà gai dây, cà vanh, cà quynh, ca lù, cà bò, cà Hải Nam, cà quanh, trap khar (Campuchia), Blouxit (Lào),. [14] Tên khoa học cua cay cà gai leo là Solanum procumbens L. hoặc Solanum hainanense H. Phân loại khoa học được trình bay ở Bảng 1.
Phần loại khoa học của cà gai leo Gidi Plantae (Thuc vat) Nganh Mangolipphyta (Thực vat có hoa) Lop Mangoliopsida (Thực vật hai lá mam) Bộ Solanales (Cà) Họ Solanaceae (Cà) Chi Solanum Loai S. procumbens Cà gai leo là loài cây nhỏ sống nhiều năm mọc leo hay bò dài đến 0. Lá cây mọc so le có hình bầu dục. Hoa kết thành cụm, có màu tím nhạt.
Quả là dạng quả mọng bóng, hình câu, khi chín có màu đỏ. Cà gai leo mọc rải rác khăp nơi, thường ra hoa vào tháng 4-5 và có quả vào khoảng tháng 7 — 9 [14]. Cây cà gai leo Ca gai leo phan bố ở cả Trung Quốc, Lào, Campuchia, Việt Nam,. Ở nước ta, cà gai leo được tim thay ở nhiều nơi như Son La, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Gia Lai, An Giang,.
Thanh phan hóa học Bang 1. Công thức hóa hoc một số hợp chất có trong cà gai leo [16-19] Công thức hóa học Tên hợp chất 3/-hydroxy-5ø-pregnan-l6-one Solasodine (22R,25R)-spirosol-4-en-3-one Vaccenic acid Solasonine Diosgenin B-Sitosterol Chlorogenic acid Coumarin Trong thành phan hóa hoc của ca gai leo, solasodine là hợp chất chính, đây là một steroid alkaloid được tim thay ở khoảng 250 loài cây khác nhau thuộc họ cà, đặc biệt là chi Solanum, chúng thường tôn tại ở dang glycoside [20]. Adam và các cộng sự đã nghiên cứu và phân lập các hợp chất từ cao CHCl của rễ và lá Cây cà gai leo (Solanum procumbens L. Kết quả đã phân lập được (22R,25R)-spirosol-4-en-3-one [16].
Một năm sau đó, nhóm tác giả này tiếp tục phân lập được 36-hydroxy-5a-pregnan- 16-one từ cao chiết CHC]a của rễ cây cà gai leo (Solanum procumbens L. Năm 2002, Nguyễn Thị Bích Thu đã nghiên cứu và phân lập được một hợp chất glycoalcaloid từ rễ cây cà gai leo (Solanum procumbens L.) là solasonine và cho kết qua sơ bộ thành phan hóa hoc trong cà gai leo gồm có alkaloid, glycoalkaloid (solasonine, solasodine), steroid saponin (diosgenin), phenolic acid (chlorogenic acid va caffeic acid), flavonoid, coumarin, acid amin, phytosterol (Ø-sitosterol), chat béo, carotenoid va các đường khử tự do [18]. Năm 2017, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Mai đã phân lập và định lượng được một số hợp chất có trong cây cà gai leo [21]. Hàm lượng các hợp chất trong cao ethanol cây cà gai leo Thành phần hóa học Hàm lượng (%) Ursolic acid 0.17 cis-Vaccenic acid 31.05 Vaccenic acid là thành phan có hàm lượng cao trong cao chiét va có nhiêu hoạt tính sinh học cao như kháng viêm, kháng ung thu vú, giảm nguy cơ suy tim,.
Hoạt tính sinh học Ở Việt Nam, trong dân gian, cà gai leo là thành phần của các bài thuốc chữa rắn can, ho gà, phong thấp, viêm gan, xơ gan,. O Trung Quốc, lá cà gai leo được dùng để trị viêm tuyến sữa [14]. Năm 1998, Nguyễn Phúc Thái và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính bảo vệ gan bị gây độc bởi trinitrotoluene (TNT) của cà gai leo trên 3 nhóm chuột: nhóm kiểm soát, nhóm bị gây độc, nhóm bảo vệ. Kết quả cho thay cà gai leo có hoạt tính bảo vệ gan bị gây độc bởi TNT [19].
Năm 2013, Nguyễn Quang Vĩnh và cộng sự tiếp tục thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn của cà gai leo bang phương pháp khếch tán đĩa với 2 chủng nam là Aspergillus niger, Penicillin cyclopium và 2 ching nam men là Saccharomyces cerevisiae, Candida albicans của 3 cao chiết methanol, ethanol va acetone. Kết quả thí nghiệm cho thay hoạt tinh kháng khuẩn của cà gai leo hầu hết thé hiện tốt nhất trên cao chiết methanol với 8 đường kính ức chế tăng trưởng đối với Aspergillus niger là 8,60 + 0.2; Penicillin cyclopium là 12,89 + 0,69; Saccharomyces cerevisiae là 9.00 + 0,66; Candida albicans là 8,17 + 0,14 [23]. Nam 2017, Shen và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tinh ức chế tế bảo ung thư phổi của solasodine. Kết quả thu được solasodine ức chế tế bào A549 gây ung thư phối ở nông độ 16 uM từ 24 đến 48 giờ còn ở nồng độ dưới 12 uM trong 24 giờ thì không hiệu quả [24].
Với nghiên cứu đã duoc nghiên cứu, cà gai leo và ngải bún có tiêm năng lớn dé ứng dụng các sản phẩm của chúng vào dược phẩm. Tuy nhiên các hợp chất và cao của cà gai leo và ngải bún có độ phân tán trong nước thấp làm hạn chế sự hấp thu vào cơ thể. Do đó, cần một phương pháp làm tăng độ phân tán của sản phẩm trong nước và công nghệ nano là công nghệ thích hợp dé sử dụng. Tong quan về công nghệ nano 1.
Khái niệm Công nghệ nano là công nghệ tạo ra các vật liệu, các sản phẩm có kích thước nano với các tính chất và chức năng mới mà chúng ta có thể không chế và điều khiến được. Yếu tố trung tâm của công nghệ nano là kích thước (1 — 1000 nm). Trong dược phẩm, thuốc tạo bởi những hoạt chất và vật liệu polymer có nhiệt độ nóng chảy nhỏ hơn 300 °C thì việc tạo ra hạt có kích thước trong khoảng | - 100 nm rất khó, do đó, tạo ra các hạt nhỏ hơn 300 nm là phù hợp [25]. Khi kích thước giảm tới kích thước nano thì các tiểu phân nano có thé thay đối các tính chất vật lý như màu sac, nhiệt độ nóng chảy, các tính chất nhiệt, từ, điện, quang mà không cần thay đổi thành phần hóa học dẫn tới xuất hiện các tinh chất mới.