Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS. TS Huỳnh Đại Phú • Tính chất của hệ dung dịch polymer: nồng độ polymer trong dung dịch, sức căng bề mặt của dung dịch polymer, độ dẫn điện của dung môi và polymer, độ bay hơi của dung môi sử dụng,. • Các thông số thực hiện quá trình Coaxial electrospraying: điện áp đặt vào, tốc độ phun, khoảng cách đầu phun và bộ phận thu mẫu. • Yếu tố về môi trường: nhiệt độ, độ ẩm tương đối,… 1.Ảnh hưởng của dung dịch polymer và hệ dung môi a.
Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch polymer Khi tiến hành Electropspraying dung dịch polymer, các giọt polymer trải qua quá trình bay hơi và khuếch tán đồng thời. Các chuỗi rối hình thành trong quá trình và quyết định đến hình thái cuối cùng của hạt. Sự đồng đều và kích thước hạt sẽ nhỏ hơn khi giới hạn được chuỗi rối [3]. Số lượng rối trên một chuỗi trong dung dịch, (ne)sol, được tính Mw toán thông qua nồng độ dung môi: (ne ) sol (1) Me Quá trình Electrospraying chỉ xảy ra đối với trường hợp 1 chuỗi rối trên mạch ((ne)sol= 2) trong khi 2,5 chuỗi rối trên một mạch ((ne)sol= 3,5) sẽ dấn đến sự hình thành các sợi – quá trình này gọi là quá trình Electrospinning.
Chuỗi hạt có thể hình thành khi giá trị (ne)sol nằm ở giá trị trung gian [4]. Nồng độ polymer trong dung dịch đóng một vai trò quan trọng trong chế độ rối của polymer và là thông số quyết định đến sự hình thành các hạt hay sợi. Đây là thông số quan trọng để kiểm soát và tối ưu hóa quá trình thực hiện. Nồng độ che phủ chuỗi tới hạn Cov, được biết là điểm mà nồng độ dung dịch bằng với nồng độ bên trong bán kính 1 tròn của một mạch dài polymer và tỷ lệ với độ nhớt thực của polymer ( ) [5]: Cov [ ] (2) HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 8 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS.
TS Huỳnh Đại Phú Khi nồng độ polymer trong dung dịch C nhỏ hơn Cov, trong dung dịch không xuất hiện sự rối chuỗi và chế độ này được gọi là “dilute regime”. Khi C lớn hơn Cov, nồng độ polymer trong dung dịch đủ lớn để các mạch polymer có thể gối lên nhau nhưng chưa đủ để có thể hình thành mức độ rối lớn. Chế độ này được gọi là “semi-dilute unentangled regime”. Tuy có xuất hiện một vài chuỗi rối trong dung dịch polymer nhưng hạt thu được lại bị thay đổi hình dạng trong quá trình bay hơi dung môi – hạt bị xẹp xuống thành hình các tấm phim mỏng.
Chế độ này được sử dụng để sản xuất các màng phim mỏng hoặc một vài thiết bị vận chuyển dùng để chữa trị khác. Nhiều lớp màng phim polymer có chứa nhiều loại thuốc có thể tạo được tạo thành bởi phương pháp Electrospraying khi tiến hành phun ở chế độ “dilute regime” hay “semi-dilute unentangled regime”. Các hệ vận chuyển này có thể điều khiển quá trình nhả thuốc thông qua độ dày của màng phim [6]. Để có thể tạo thành các hạt bằng phương pháp Electrospraying, chế độ sử dụng phải là “semi-dilute moderately entangled regime”.
Điều này xảy ra đối với nồng độ Cent, đây là nồng độ mà chế độ “semi-dilute unentangled regime” chuyển qua chế độ “semi- dilute moderately entangled regime”. Tại nồng độ này, một hàm lượng lớn các chuỗi rối được hình thành xếp chồng lên nhau. Các hạt rắn và có dạng hình cầu được hình thành trong quá trình phun. Tuy nhiên khi nồng độ polymer trong dung dịch C > 3Cov, lực liên kết giữa các phân tử polymer trở nên quá lớn để mà có thể thực hiện quá trình electrospraying.
Các chuỗi hạt và sợi có thể hình thành trong trường hợp này, tương ứng với chế độ “semi-dilute highly entangled regime”. Để tối ưu hóa quá trình tạo hạt bằng phương pháp Electrospraying, nồng độ tối thiểu cần thiết phải lớn hơn Cent, nhưng không vượt quá 3Cov. Trọng lượng phân tử trung bình khối (Mw) và độ đa phân tán của polymer cũng ảnh hưởng rất nhiều đến Cov vì sự khác biệt về độ nhớt thực của polymer. Sự tăng trọng lượng phân tử trung bình khối (Mw) dẫn đến việc giảm tỷ lệ C/Cov và làm hẹp khoảng chế độ “semi-dilute moderately entangled regime” và do đó làm hẹp lại khoảng nồng độ có thể Electrospraying của dung dịch polymer.
Bên cạnh đó, HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 9 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS. TS Huỳnh Đại Phú độ đa phân tán lớn hơn sẽ dẫn đến tỷ lệ C/Cov > 3 và làm gia tăng khoảng chế độ “semi- dilute moderately entangled regime”, làm tăng khoảng nồng độ có thể Electrospraying của dung dịch polymer [6].3: Ảnh hưởng của nồng độ đến kết quả hạt thu được bằng phương pháp Electrospraying tương ứng với các chế độ khác nhau [7]. HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 10 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS. TS Huỳnh Đại Phú Hình 1.4: Hạt Chitosan thu được khi tiến hành Electrospraying ở các nồng độ Chitosan (w/v) khác nhau: (a) 1%, (b) 2%, (c) 3%, (d) 4%.
Ảnh hưởng của dung môi Các dung môi hữu cơ sử dụng trong phương pháp Electrospraying đòi hỏi phải hòa tan hoàn toàn polymer. Dung môi được sử dụng nhiều nhất là Dichloromethane (DCM), loại Clo – hydrocacbon có nhiệt độ sôi thấp nhất, khoảng 400C. Một số loại dung môi khác cũng thường được sử dụng như: Acetone, Chlorofom, ethanol, Acetonitrile, Acetic Acid., có thể được sử dụng một hình hay kết hợp nhiều loại dung môi lại với nhau. Nhiệt độ sôi của dung môi là nhiệt độ mà ở đó áp suất hơi bằng với áp suất khí quyển HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 11 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS.
TS Huỳnh Đại Phú và điều này biểu hiện bằng sự bay hơi của dung môi. Dung môi với áp suất hơi thấp (nhiệt độ sôi cao) sẽ khó hóa hơi hơn so với dung môi có áp suất hơi cao (nhiệt độ sôi thấp) và do đó bay hơi ít hơn. Điều này có nghĩa độ khuếch tán của polymer sẽ giảm đi trong giọt electrospray từ dung môi có áp suất hơi cao, nơi mà sự bay hơi của dung môi diễn ra ở mức độ cao. Tác động của dung môi đến hình dạng và kích thước hạt được cho rằng: với sự tăng nhiệt độ sôi tương ứng với việc giảm độ bay hơi, hạt hình thành có kích thước nhỏ hơn và bề mặt sẽ nhẵn hơn, điều này thu được khi sử dụng dung môi có nhiệt độ sôi cao trên 1400C (như là DMF, 1460C).
Kích thước hạt thu được sẽ lớn hơn và các hạt có thể xâu lại với nhau khi sử dụng dung môi có nhiệt độ sôi thấp như Chloroform (610C), Dichloromethane (400C). Điều này xảy ra với sự bay hơi nhanh của dung môi, thời gian để các chuỗi polymer có thể kết hợp với nhau và sắp xếp lại trong thời gian các giọt polymer bay từ đầu kim đến màng thu. Sự bay hơi nhanh hơn còn dẫn đến các lỗ trên hạt và tạo ra những hạt rỗng [8]. Một điều quan trọng cần phải chú ý là sự giảm áp suất hơi làm yếu đi lực tác động chuỗi rối của polymer.
Do đó, lực đầy Coulumb sẽ dễ dàng vượt qua sức căng bề mặt của dung dịch polymer, dẫn đến sự phóng ra các hạt nhỏ và tích điện cao. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy với hạt PLGA. Khi thêm 30% DMF vào acetone để làm giảm áp suất hơi tử 21 kPa xuống 15 kPa, hạt PLGA thu được phân tán thành 2 kích thước hạt [9]. Một điều cần chú ý là tùy thuộc vào mỗi loại polymer mà chúng có những tương tác khác nhau đối với mỗi loại dung môi.
Tác động của dung môi đến những chuỗi rối và hình dạng cuối cùng của hạt thu được là khác nhau đối với loại polymer khác nhau. Nồng độ và trọng lượng phân tử cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tương tác giữa dung môi và polymer [10]. Ảnh hưởng của sức căng bề mặt HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 12 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS. TS Huỳnh Đại Phú Do lực chống lại lực đẩy tĩnh điện là sức căng bề mặt của dung dịch polymer nên sức căng bề mặt quyết định nhiều đến khả năng tiến hành quá trình electrospraying của dung dịch polymer.
Sức căng bề mặt càng thấp thì khả năng tiến hành quá trình electrospraying của dung dịch polymer càng cao. Một yếu tố quan trọng để làm giảm đáng kể sức căng bề mặt của dung dịch polymer là việc lựa chọn dung môi. Để quá trình electrospraying xảy ra dễ dàng, phải lựa chọn dung môi sao cho dung dịch có sức căng bề mặt thấp.5 : Sức căng bề mặt và độ nhớt của dung dịch Chitosan 7% (Mw= 106 000 g/mol) trong acid acetic với các nồng độ khác nhau. [11] HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 13 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS.
TS Huỳnh Đại Phú Hình 1.6: Ảnh hưởng của nồng độ Acetic acid (với sức căng bề mặt của dung dịch khác nhau) đến hình dạng và kích thước hạt: (a) 10%, (b) 30%, (c) 50%, (d) 70%, (e) 90%. [8] HVTH: Đoàn Ngọc Hoan Trang 14 Chương 1: Tổng quan GVHD: PGS. TS Huỳnh Đại Phú Ngoải ra, trong quá trình Coaxial electrospraying, việc tạo thành cấu trúc lõi – vỏ của hạt thu được có thể được dự đoán bằng cách tính toán hệ số che phủ, thông qua việc xác định sức căng bề mặt của dung dịch pha vỏ và pha lõi cũng như sức căng liên diện giữa hai pha này [3, 12]. Thông thường, khả năng bao phủ của một hệ polymer lên một dung dịch hoặc một nền nào đó được tính toán bằng hệ số che phủ λij trong công thức Harkin: λij = γj – γi - γij (3) Trong đó γj là sức căng bề mặt của dung dịch pha j, γi là sức căng bề mặt của dung dịch pha vỏ, γshell/ core là sức căng liên diện giữa 2 pha.
Để có thể đạt được sự che phủ hoàn toàn của pha i lên pha j, đòi hỏi λij phải mang dấu dương. Như vậy, trong quá trình coaxial electrospraying, để đạt được cấu trúc lõi – vỏ như mong muốn, hệ số che phủ của dung dịch pha ngoài lên dung dịch pha trong (λshell/ core) phải là phải dương. Nghĩa là: λshell / core = γcore – γshell - γshell/ core > 0 (4). Trong đó γcore là sức căng bề mặt của dung dịch pha lõi, γshell là sức căng bề mặt của dung dịch pha vỏ, γshell/ core là sức căng liên diện giữa 2 pha.7 trình bày các khả năng bao phủ có thể xảy ra khi hệ số che phủ thay đổi.
Sự che phủ hoàn toàn của polymer pha II lên pha I có thể xảy ra hoàn toàn khi hệ số che phủ là dương, hình 1. Tuy nhiên, khi hệ số che phủ âm, có thể xảy ra trường hợp bao phủ ngược: pha I sẽ bao phủ lên pha II (hình 1.7 (b)) hoặc có thể sẽ xảy ra hiện tượng bao phủ một phần (hình 1.