Chương 1.6 Ứng dụng thực tiễn của đề tài Qui trình thực hiện sẽ đƣợc sử dụng tích hợp trong dự án Metabarcoding để xây dựng barcoding ADN cho các loài cây. Đây là một ứng dụng phục vụ cho rất nhiều nghiên cứu trong đa dạng sinh học, phân tích các loài cây, sinh vật phù du và phân tích cộng đồng sinh vật đáy, xây dựng lại hệ sinh thái trong quá khứ.7 Bố cục luận văn Nội dung luận văn đƣợc chia làm năm chƣơng. Các chƣơng này đƣợc tổ chức nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Giới thiệu Nội dung chƣơng này chúng tôi giới thiệu tổng quan các nội dung cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài. Sau cùng chúng tôi trình bày phạm vi nghiên cứu của đề tài và ứng dụng của đề tài.
Chƣơng 2: Tổng quan về qui trình xác định trình tự bộ gien Nội dung chƣơng này chúng tôi trình bày chi tiết về các giai đoạn trong qui trình xác định trình tự một bộ gien gồm: giải trình tự gien (Sequencing DNA), lắp ráp trình tự gien ( Assembly) , ánh xạ gien mẫu (Mapping). Chƣơng 3: Xây dựng qui trình xác định trình tự bộ gien Chloroplast của các loài cây Trong chƣơng này chúng tôi đề xuất một qui trình xác định trình tự bộ gien Chloroplast mới dựa trên qui trình truyền thống. Trong mỗi giai đoạn chúng tôi trình bày chi tiết giải thuật, cách cài đặt và xây dựng các công cụ. Thực nghiệm và đánh giá kết quả.
Nội dung chƣơng này trình bày cách thức thực hiện quá trình thực nghiệm để đánh giá qui trình. Chúng tôi trình bày cụ thể cách xử lý dữ liệu trong từng giai đoạn của qui trình và cách thức sử dụng các công cụ đã đƣợc xây dựng trong qui trình. Tiếp theo chúng tôi cách đánh giá qui trình trên bốn tập dữ liệu khác nhau. Kết luận và hƣớng phát triển Nội dung chƣơng này chúng tôi nêu ra các kết luận và hƣớng phát triển của đề tài nhƣ cải tiến qui trình xác định trình tự bộ gien Chloroplast.
Trang 6 Chương 2. Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ XÁC ĐỊNH TRÌNH TỰ BỘ GIEN 2.1 Lịch sử kỹ thuật giải trình tự gien Kỹ thuật giải trình tự ADN (DNA Sequencing) là dùng phƣơng pháp hay công nghệ để xác định thứ tự của các axít này trong một đoạn ADN ngắn (đoạn này đƣợc gọi là short read). Kỹ thuật này xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1970 và ảnh hƣởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực khoa học nhƣ: di truyền học, công nghệ sinh học, sinh học phân tử, khoa học pháp y và nhiều lĩnh vực khác. Trải qua hơn ba thập niên, các kỹ thuật giải trình tự đã có sự phát triển nhanh chóng, có thể phân thành ba nhóm chính nhƣ sau: giải trình tự dựa vào chất xúc tác sinh học enzyme với điển hình là kỹ thuật Sanger [Sanger et al., 1975], giải trình tự theo phƣơng pháp hóa học với công trình của hai nhà khoa học Maxam và Gilbert [Maxam và Gilbert, 1977] và kỹ thuật giải trình tự ADN thế hệ tiếp theo (Next generation ADN sequencing technology - NGS).2 Các phƣơng pháp giải trình tự gien 2.1 Giải trình tự gien bằng phƣơng pháp hóa học.
Giải trình tự gien bằng phƣơng pháp hóa học đƣợc hai nhà khoa học ngƣời Mỹ Allan Maxam và Walter Gilbert đã phát minh vào năm 1977 [Allan Maxam và Walter Gilbert, 1977]. Đây là phƣơng pháp sử dụng các phản ứng hóa học để xác định đƣợc trình tự các nucleotide trong chuỗi ADN. Trong phƣơng pháp này gồm các giai đoạn cơ bản sau: (1) ADN sợi kép đƣợc tách thành sợi đơn. (3) Sử dụng 4 loại hóa chất khác nhau, mỗi loại hóa chất chỉ phá hủy một loại nucleotide nhất định và tiến hành 4 phản ứng hóa học độc lập, kết quả tạo ra các đoạn ADN có kích thƣớc khác nhau.
(4) Sản phẩm của 4 phản ứng đƣợc tiến hành điện di. Trình tự nucleotide đƣợc đọc từ dƣới lên theo chiều từ 5‟ đến 3‟. Trang 7 Chương 2. Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien Hình 2.1 Mô hình phương pháp hóa học của Maxam và Gilbert 4 Phƣơng pháp hóa học xác định trình tự ADN của Maxam và Gilbert trên thực tế không phải dễ thực hiện vì cần phải xác định khá nhiều thông số tối ƣu cho thí nghiệm, trong đó khó nhất là phải xác định đƣợc nồng độ giới hạn của các chất hóa học sao cho khi xử lý mẫu ADN thì trên mỗi đoạn ADN chỉ có một base bị biến đổi.
Chính vì sự phức tạp này, phƣơng pháp Maxam-Gilber hiện nay gần nhƣ không còn sử dụng, mà thay vào đó các nhà khoa học dùng phƣơng pháp enzyme với nhiều ƣu điểm vƣợt trội hơn.2 Phƣơng pháp Enzyme Phƣơng pháp Enzyme đƣợc Sanger và các cộng sự phát minh cũng vào năm 1977 [Sanger et al. Nguyên tắc của phƣơng pháp này là dựa vào sự hoạt động của enzyme DNA-polymerase để tổng hợp mạch bổ sung của trình tự cần xác định. 4 http://universe-review.htm Trang 8 Chương 2. Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien Hình 2.2 Phương pháp Enzyme giải trình tự ADN5 Phản ứng có sự tham gia của các dideoxynucletide (ddNTP).
Để thực hiện phƣơng pháp này, trƣớc hết, các đoạn ADN cần xác định trình tự phải đƣợc tạo dòng vào một vector để nhân thành nhiều bản sao trong tế bào đƣợc chuyển vào sau đó tách chiết để thành các vector tự do. Lƣợng ADN sau khi đƣợc tách chiết sẽ đƣợc phân vào bốn ống nghiệm khác nhau để thực hiện phản ứng giải trình tự. Kết quả sẽ tạo những mạch ADN có chiều dài khác nhau 1 nucleotide tƣơng ứng với trình tự nucleotide trên đoạn ADN gốc. Sau khi điện di giống nhƣ phƣơng pháp Maxam- Gilbert, các vạch điện di này đƣợc hiển thị bằng kỹ thuật phóng xạ tự ghi.
Từ các vạch này có thể xác định đƣợc trình tự ADN.vn/ Trang 9 Chương 2. Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien 2.3 Giải trình tự thế hệ tiếp theo (NGS) Trong các giải trình tự thế hệ tiếp theo, tất cả các ADN từ một nguồn (thƣờng là một cá thể) đƣợc cắt nhỏ thành hàng triệu các mẩu nhỏ. Các mẩu ADN nhỏ này đƣợc “đọc” một cách tự động bằng các thiết bị giải trình tự, gọi là read. Kỹ thuật này bắt đầu xuất hiện từ năm 2000 với chi phí giảm đáng kể và chiều dài của read sinh ra cũng ngắn hơn (từ 25→75 bp, ngoại trừ kỹ thuật 454 pyrosequencing tạo ra read có chiều dài 250 bp) so với phƣơng pháp giải trình tự của Sanger.
Giai đoạn này có nhiều phƣơng pháp lập trình tự đƣợc giới thiệu nhƣ: 454 pyrosequencing (Roche Applied Science; Basel), Solexa (Illumina; San Diego, CA, USA), ABI SOLiD (Applied Biosystems; Foster City, CA, USA), HeliScope (Helicos; Cambridge, MA, USA)…Trong đó tiêu biểu là hai kỹ thuật 454 pyrosequencing và ABI SOLiD a. Kỹ thuật 454 pyrosequencing Kỹ thuật pyrosequencing 454 [Pål Nyrén, Mostafa Ronaghi, 1996] đề xuất bởi Pål Nyrén và Mostafa Ronaghi của Viện Kỹ thuật Stockholm, Thụy Điển năm 1996 và đƣợc phát triển bởi công ty 454 Life Science. Kỹ thuật này gồm các giai đoạn đƣợc thể hiện trong Hình 2.3 Đầu tiên, sợi khuôn, một sản phẩm PCR sợi đơn, đƣợc lai với một primer giải trình tự và sau đó đƣợc ủ với các enzyme. Khi dNTP đầu tiên đƣợc bắt cặp bổ sung, nó đƣợc gắn với sợi ADN khuôn nhờ các enzyme và thực hiện phản ứng để tạo ra ánh sánh nhìn thấy, có độ sáng tƣơng ứng.
Ánh sáng này đƣợc nhận viết bởi một camera và phân tích bởi một chƣơng trình phần mềm. Sau đó các enzyme làm suy biến các nucleotide không bắt cặp và ATP. Sau quá trình làm suy biến, phản ứng bắt đầu lại với nucleotide khác đƣợc gắn vào. Sau một quá trình liên tục, sợi ADN bổ sung đƣợc tổng hợp xong và việc giải trình tự nucleotide đƣợc xác định.
Công ty 454 đã phát triển mới kỹ thuật pyrosequencing trở thành kỹ thuật nền tảng hữu hiệu cho việc giải trình ADN dữ lƣợng lớn. Nó trở nên nổi bật với ứng dụng vào giải trình tự genome và ngành metagenomics. Nền tảng kỹ thuật pyrosequencing GS FLX của công ty 454 Life Science có thể tạo ra 400 triệu nucleotide trong 10 giờ bởi một máy, và giá thành khoảng 5,000 – 7,000 USD cho mỗi lần chạy [Lorato Lekgari, 2010]. Trang 10 Chương 2.
Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien Hình 2.3 Kỹ thuật 4546 a) Kỹ thuật SOLiD Cuối năm 2007, công ty Applied Biosystems (ABI) đã giới thiệu kỹ thuật SOLiD (Sequencing by Oligonucleotide Ligation and Detection) dựa trên nền tảng thế hệ lập trình tự ADN thế hệ tiếp theo (Next-generation ADN sequencing). Kỹ thuật này chủ yếu dựa trên phƣơng pháp buộc thắt (ligation) để xác định trình tự của các mảnh ADN. Thƣ viện các mảnh ADN dùng để lập trình tự có thể là mảnh đơn hoặc mảnh đôi (mate-paired). Các mảnh này đƣợc nhân bản vô tính thông qua phƣơng pháp emulsion PCR, tạo ra các hạt (bead) đƣợc gắn vô số các mảnh ADN trên bề mặt.
Sau đó, các hạt này đƣợc đặt trên bề mặt của một tấm kính để thực hiện quá trình lập trình tự nhƣ hình Hình 2.4 6 The Journal of Experimental Biology 209, 1518-1525. Published by The Company of Biologists 2007 Trang 11 Chương 2. Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien Hình 2.4 Nhân bản vô tính các mảnh ADN (Jay và Hanlee, 2008)7 Trình tự đƣợc thiết lập bằng cách tổng hợp nhiều chu trình buộc thắt nhƣ Hình 2. Đầu mồi (primer) đƣợc gắn với bộ điều hợp P1 (P1 adaptor) của các mẫu, đầu dò (probes) có chứa nhãn huỳnh quang (bốn màu khác nhau) từng bƣớc buộc thắt với đầu mồi.
Quá trình này sẽ thực hiện tổng cộng năm chu kỳ trên toàn bộ chiều dài của mẫu. Do các đầu dò đƣợc mã hóa theo 2 base (vị trí 1 và 2) nên mỗi vị trí của mỗi base trong mẫu sẽ đƣợc xác định hai lần nhƣ Hình 2. Dựa theo màu của nhãn huỳnh quang, chúng ta có thể tìm thấy base tƣơng ứng với màu đó và toàn bộ trình tự của read đƣợc xác định. Kỹ thuật này sinh ra read có chiều dài là 35 bp với độ chính xác khoảng 99.
(a) 7 The Journal of Experimental Biology 209, 1518-1525. Published by The Company of Biologists 2007 Trang 12 Chương 2. Tổng quan về xác định trình tự một bộ gien (b) Hình 2.5 Chu trình buộc thắt một mẫu8 Các kỹ thuật lập trình tự thế hệ đầu tiên nhƣ kỹ thuật Sanger và kỹ thuật Maxam - Gilbert có chi phí tƣơng đối cao (khoảng 500 USD cho mỗi Megabase) và chiều dài read từ vài trăm đến 1000 bp.