MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, các vấn đề về môi trường là một trong những chủ đề có tính chất thời sự ở hầu hết các quốc gia và trong các lĩnh vực của đời sống. Chính phủ cũng ra các quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường làm cho các DN cũng gia tăng đáng kể các chi phí môi trường như: chi phí xử lý ô nhiễm, khoản tiền phạt ô nhiễm, chi phí quản lý và phòng ngừa ô nhiễm…Các DN muốn phát triển và phát triển bền vững cần đảm bảo được sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để hướng tới sự phát triển bền vững thì mỗi quốc gia sẽ đưa ra ngày càng nhiều các quy định chặt chẽ hơn về môi trường làm cho các chi phí liên quan đến môi trường ngày càng tăng.
Chiến lược của Việt Nam là phát triển kinh tế nhanh, bền vững và bảo vệ tốt môi trường. Nhà nước ta cũng quan tâm và ban hành ngày càng nhiều các quy định mang tính chất pháp lý để hạn chế tới mức tối đa các hành vi vi phạm, huỷ hoại, gây ô nhiễm tới môi trường. Về lâu dài, trách nhiệm của DN đối với môi trường là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận; do đó, cần giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này buộc các DN phải có sự quan tâm đúng mức đến chi phí môi trường trong hạch toán kế toán để giảm các rủi ro về môi trường.
KTQTCP môi trường đã và đang được ứng dụng trong nhiều DN thuộc các lĩnh vực kinh tế đặc biệt là các ngành nghề có ảnh hưởng lớn đến môi trường (như hoá chất, sản xuất giấy, sản xuất xi măng,…), trong đó có lĩnh vực SX gạch. Theo báo cáo số 127/BC-UBND (2019), “Đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá” đã nhấn mạnh và khẳng định kế hoạch bảo vệ môi trường của các cơ sở phải được tổ chức một cách chặt chẽ, đúng quy định; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của chủ các dự án, chủ các doanh nghiệp; yêu cầu các cơ sở thực hiện nghiêm các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. [1] Tuy nhiên trên thực tế, các sự cố môi trường vẫn liên tiếp xảy ra đối với các DN SX gạch men nói chung và DN SX gạch men trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá nói riêng. Các công ty cũng ngày càng quan tâm đến kết quả hoạt động môi trường của các công ty trong chuỗi cung ứng của họ.
Do sự hợp nhất của các nhà cung cấp và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng vào các nhà cung cấp và nhà sản xuất để SX sản phẩm và cung cấp dịch vụ, nên rủi ro chung từ việc không tuân thủ môi trường hoặc các vấn đề an toàn trong chuỗi nhà cung cấp đã trở thành một vấn đề đối với các công ty. Các công ty có thể sử dụng dữ liệu hoạt động môi trường dựa trên lịch sử tuân thủ của nhà cung cấp và tình trạng hiện tại của cơ quan nhà nước để ước tính chất lượng của nhà cung 1 cấp và đánh giá rủi ro liên quan đến các cơ sở đó. Cam kết bền vững sẽ tạo ra một hình ảnh thân thiện về môi trường với các bên liên quan. Kết quả là, công ty sẽ nâng cao lòng tin của khách hàng, thu hút khách hàng mới, thâm nhập thị trường mới và nâng cao tinh thần của nhân viên.
Các DN SX gạch men trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đóng một vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, công nghệ SX gạch men hiện nay sử dụng các nguyên liệu như cát, xi măng, than, đá… gây những tác động tiêu cực đến môi trường như: nước thải của các nhà máy trong quá trình SX bao gồm các tạp chất vô cơ không tan, cũng chứa một số chất hữu cơ lơ lửng và hoà tan, một số vi trùng gây bệnh; khí thải, bụi độc hại ảnh hưởng đến môi trường sống, tăng khí thải nhà kính, tăng chi phí xử lý môi trường cũng như chi phí quản lý và phòng ngừa ô nhiễm. Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường trong SX gạch men trở nên bức thiết hơn đối với các DN SX gạch men nhằm phát triển kinh tế bền vững. KTQTCP môi trường giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý chi phí môi trường và nâng cao hiệu quả tài chính.
Tuy nhiên, các DN SX gạch men trên địa bàn tỉnh – một lĩnh vực SX nhạy cảm với môi trường thường không đặt sự chú ý vào vấn đề này. Mặc dù cũng đã có một số sáng kiến và chương trình quản lý môi trường đã được các DN SX gạch men trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá giới thiệu nhưng việc theo dõi, xử lý và cung cấp dữ liệu về chi phí môi trường chưa được các nhà quản trị DN đặc biệt quan tâm. Từ lý do đó, tác giả lựa chọn “Kế toán quản trị chi phí môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất gạch men trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.” làm đề tài nghiên cứu. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Các công trình nghiên cứu mối liên hệ giữa Kế toán quản trị chi phí với vấn đề về môi trường Theo IFAC (2005), International Guidance Document: Environmental Management Accouting, mục tiêu hàng đầu của các công ty chính là lợi nhuận và họ ít khi chú ý đến sự “tác động môi trường và quản lý chi phí về môi trường”.
Tuy nhiên trong giai đoạn về sau thì vấn đề môi trường của các công ty đã trở thành một sự ràng buộc mới giữa công ty và xã hội. Thực tế thì tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và sự nóng lên của toàn cầu đã tạo sức hút cho xã hội và các công ty đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường.[19] Theo Deegan (2002), Auditing and Accountability Journal, các công ty cần đáp ứng được yêu cầu thân thiện với môi trường nếu không sẽ bị loại bỏ và ảnh hưởng đến sự tồn tại lâu dài. Việc đổi mới KTQT là cần thiết để hỗ trợ cho sự phát triển bền vững. Điều này đã tạo điều kiện cho Kế toán môi trường bắt đầu phát triển.[15] 2 Wei-Lun Huang, Yan-Kai Fu (2019), The Study on the Relationship between the Environmental and Financial Performances of Corporates Which Have Adopting the System of Environmental Accounting in Taiwan, các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kế toán môi trường với tình hình tài chính trong các DN ở Đài Loan và chỉ rõ việc áp dụng kế toán môi trường có thể làm cho tình hình tài chính của các tập đoàn kém hơn nhưng không đáng kể.
Ngược lại, việc giảm ô nhiễm trong DN sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận và giảm tiền phạt môi trường. Chính vì vậy trong công tác quản trị, DN nên đầu tư nhiều hơn vào mua sắm xanh, tiếp thị xanh và chế biến xanh cũng như các hoạt động môi trường khác để đối phó với các quy định về môi trường.[32] Durden (2008), Accouting and Accountability Journal, khi phân tích các DN thuộc thành phần kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ ở New Zealand cho thấy hệ thống kiểm soát quản lý của các DN không đo lường hoặc giám sát trách nhiệm xã hội của DN. Từ đó, tác giả đã chỉ ra phương pháp để hệ thống KTQT và cơ chế kiểm soát bền vững có thể được liên kết, khi đó những công cụ này có thể ngăn ngừa hoặc tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững mang tầm chiến lược.[17] Nguyễn Thị Thu Hoài (2013), “Hạch toán quản lý môi trường trong doanh nghiệp và lộ trình kinh tế xanh ở Việt Nam” đã nhận định KTQTCP là công cụ hạch toán xanh và cải thiện môi trường. Khi tiến hành xây dựng nền kinh tế xanh có nghĩa là các yếu tố về môi trường được lồng ghép như một tài khoản quốc gia để hạch toán toàn bộ nền kinh tế.
Khi đó, tài khoản môi trường này sẽ cung cấp đầy đủ các dữ liệu phản ánh sự đóng góp của các nguồn tài nguyên thiên nhiên tạo ra được lợi ích kinh tế và các chi phí do ô nhiễm hoặc suy thoái tài nguyên gây nên.[6] Các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị chi phí môi trường trong doanh nghiệp sản xuất Qian & Burritt (2009), Contingency Perspectives on Environmental Accounting: An Exploratory Study of Local Government, Accounting, Accountability and Performance Journal, khi nghiên cứu các cơ quan chính quyền địa phương của New South Wales, Úc đã chỉ ra có 3 nhân tố ảnh hưởng khi thực hành KTQTCP môi trường là: tính không chắc chắn của môi trường, chiến lược môi trường tích cực và tính phức tạp của hoạt động quản lý và tái chế chất thải.[24] Setthansakko (2010), EuroMed Journal of Busines, khi phỏng vấn sâu các nhà quản lý trong 3 DN SX giấy tại Thái Lan đã phát hiện ra 3 rào cản ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP môi trường, đó là: (1) kỹ năng và kiến thức về vấn đề môi trường của bộ phận kế toán bị hạn chế, (2) mục tiêu kinh tế ngắn hạn tập trung nhiều hơn là phát triển bền vững, (3) hướng dẫn về KTQTCP môi trường từ chính phủ không được hỗ trợ.[27] 3 Đề tài cấp Bộ của tác giả Phạm Đức Hiếu (2011) và các thành viên "Nghiên cứu giải pháp áp dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam". Đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ hơn các lý luận cơ bản về kế toán môi trường trong DN nói chung, các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng áp dụng kế toán môi trường trong DN nói riêng. Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu và phân tích thực trạng kế toán cho mục tiêu môi trường trong các DNSX của Việt Nam. Thông qua 7 mệnh đề nghiên cứu tác giả đã thực hiện các nghiên cứu định tính và định lượng để xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thực hiện kế toán môi trường trong các DNSX có qui mô tương đối lớn ở hai miền Nam, Bắc của Việt Nam hoạt động trong các lĩnh vực có liên quan nhiều đến môi trường như ngành SX thức uống, công nghiệp hóa chất và công nghiệp da giày từ đó đưa ra các giải pháp và khuyến nghị để áp dụng hiệu quả kế toán môi trường trong các DNSX của Việt Nam.