Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chính sách quản lý tài sản công tại đơn vị vũ trang nhân dân Chương 2: Phân tích thực trạng tổ chức thực thi “Nghị định số 106/2009/NĐ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ về quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an” Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi “Nghị định số 106/2009/NĐ-CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ về quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an.” 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI ĐƠN VỊ VŨ TRANG NHÂN DÂN 1. Tài sản công tại đơn vị vũ trang nhân dân 1. Khái niệm tài sản công * Tài sản: Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau: "1. Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản." Như vậy, khái niệm về tài sản tại Bộ luật dân sự mang tính chất liệt kê chứ không mang tính khái quát. Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loại tài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được. Bất động sản do đặc tính tự nhiên, được hiểu là các tài sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên cấu tạo nên tài sản đó. * Tài sản công: Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác 8 và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Như vậy, tài sản công là là nguồn lực to lớn quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, an toàn xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Để công tác quản lý tài sản công đúng theo quy định của Nhà nước và phù hợp với yêu cầu thực tế, ngày 03/06/2008, Quốc hội thông qua Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Triển khai thực hiện Luật quản lý, sử dụng tài sản công, Chính phủ ban hành 02 Nghị định: “Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/06/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật quản lý, sử dụng tài sản không bao gồm việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan Việt Nam ở nước ngoài và quản lý, sử dụng tài sản tại đơn vị vũ trang nhân dân; Nghị định số 106/2009/NĐ-CP ngày 16/11/2009 quy định quản lý tài sản công tại đơn vị vũ trang nhân dân. Tài sản công tại đơn vị vũ trang nhân dân Tại điều 2, điều 3 “Nghị định số 106/2009/NĐ-CP quy định tài sản công tại lực lượng vũ trang nhân dân như sau:” “Tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân là những tài sản nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý, sử dụng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, gồm: 1. Tài sản đặc biệt.
Tài sản chuyên dùng. Tài sản phục vụ công tác quản lý. Danh mục cụ thể tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định. Tài sản đặc biệt là tài sản chỉ sử dụng trong chiến đấu, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và nghiệp vụ quốc phòng, an ninh, gồm: a) Vũ khí, khí tài, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đặc biệt; phương tiện đặc chủng, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ; b) Công trình chiến đấu, công trình nghiệp vụ an ninh.
Tài sản chuyên dùng là tài sản sử dụng thường xuyên phục vụ hoạt động quốc phòng, an ninh của đơn vị vũ trang nhân dân không thuộc khoản 1 Điều này, gồm: a) Nhà và các tài sản khắc gắn liền với đất thuộc doanh trại, trụ sở đóng quân, kho tàng, trường đào tạo nghiệp vụ quốc phòng, an ninh, trường bắn, thao trường, bãi tập, cơ sở giam giữ của các đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi tắt là công trình chuyên dùng); b) Phương tiện vận tải chuyên dùng quốc phòng, an ninh; c) Công cụ hỗ trợ khác (ngoài công cụ hỗ trợ đặc biệt) và các tài sản khác là loại tài sản có cấu tạo đặc biệt phục vụ công tác, chiến đấu của đơn vị vũ trang nhân dân. Tài sản phục vụ công tác quản lý là tài sản sử dụng trong công tác, huấn luyện, nghiệp vụ, học tập của đơn vị vũ trang nhân dân, gồm: a) Nhà và các tài sản khác gắn liền với đất thuộc nhà trường (trừ các học viện, trường đào tạo nghiệp vụ quốc phòng, an ninh); cơ sở khám, chữa bệnh, nhà an dưỡng, nhà điều dưỡng; nhà khách; nhà công vụ; nhà thi đấu, nhà tập luyện thể dục, thể thao và các cơ sở khác không thuộc khuôn viên doanh trại, trụ sở đóng quân của các đơn vị vũ trang nhân dân. b) Xe ô tô chỉ huy, xe ô tô phục vụ công tác, các loại phương tiện giao thông vận tải khác; c) Máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc. Công trình chiến đấu là những công trình sử dụng vào mục đích phòng thủ đất nước và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Công trình nghiệp vụ an ninh là những công trình sử dụng vào công tác nghiệp vụ bảo đảm an ninh quốc gia. …” Như vậy, tài sản công trong Công an nhân dân là TSNN được đầu tư, mua sắm, trang bị phục vụ cho nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân do lực lượng Công an quản lý, sử dụng. Đặc điểm tài sản công tại đơn vị vũ trang nhân dân Tài sản công tại lực lượng vũ trang nhân dân có các đặc điểm sau: - Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản có sự tách rời: Quyền sở hữu tài sản 10 thuộc về nhà nước, còn quyền sử dụng thuộc về các đơn vị trong lực lượng vũ trang nhân dân. - Về mục đích sử dụng: Tài sản công được sử dụng cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.
- Mang tính chất đặc thù của ngành, lĩnh vực nên tài sản có kỹ thuật, đặc tính riêng để phục vụ cho từng nhiệm vụ khác nhau. - Có những loại tài sản công không tái tạo được phải bảo tồn để phát triển. - Giá trị của tài sản công giảm dần trong quá trình sử dụng, phần giá trị giảm dần đó được xem là yếu tố chi phí tiêu dùng công, do đó phần giá trị hao mòn được thu hồi gián tiếp qua hiệu quả của các hoạt động sự nghiệp phục vụ cho đảm bảo an ninh, trật tự xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. - Một số tài sản công được sử dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công.
- Khi tiến hành mua sắm nhập khẩu từ nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng “(Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT và Khoản 18, Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính vê việc hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT).” - Đất đai an ninh quốc phòng do lực lượng vũ trang quản lý không phải nộp tiền sử dụng đất. Tổ chức thực thi chính sách về quản lý tài sản công tại đơn vị vũ trang nhân dân 1. Khái niệm tổ chức thực thi chính sách * Khái niệm chính sách: Theo Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do tác giả PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà và PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền thì “Chính sách là tổng thể các tư tưởng, quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của hệ thống theo định hướng mục tiêu tổng thể”. 11 * Khái niệm tổ chức thực thi chính sách Theo sách Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 - 2001, định nghĩa “Thực hiện chính sách là quá trình chuyển những tuyên bố trên giấy tờ của chính quyền về loại dịch vụ, mục tiêu, đối tượng, phương thức thành những hành động nhất định nhằm phân phối dịch vụ từ tuyên bố” (Lê Vinh Danh, 2001, trang 286).
Theo Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội do PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà và PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền chủ biên thì: “Tổ chức thực thi chính sách là giai đoạn thứ hai trong cả quá trình chính sách, sau giai đoạn hoạch định. Tổ chức thực thi chính sách là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước nhằm hiện thực hóa những mục tiêu mà chính sách đề ra”. Để thực hiện mục tiêu quản lý, sử dụng tài sản công trong lực lượng vũ trang nhân dân nói riêng, Chính phủ ban hành “Nghị định số 106/209/NĐ-CP. Như vậy, tổ chức thực thi chính sách về quản lý tài sản công trong lực lượng vũ trang nhân dân là tổ chức thực thi Nghị định số106/209/NĐ-CP tại Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, là quá trình biến các ý tưởng chính sách, mục tiêu chính sách về quản lý sử dụng tài sản nhà nước tại các đơn vị vũ trang nhân dân thành những kết quả cụ thể trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trên cơ sở huy động mọi nguồn lực về con người, tài chính, cơ sở vật chất do các đơn vị trong Bộ Công an, Bộ” Quốc phòng thực hiện 1.