Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh thuộc địa bàn tỉnh Hà Giang là khu vực mang kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới ẩm núi cao kết hợp sinh cảnh rừng trên núi đá vôi đặc trưng, lưu giữ nhiều loài thực vật quý hiếm như Pơ mu, Nghiến, Hoàng đàn, Kim giao và Thông tre. Theo Quyết định số 909/QĐ-UB ngày 25 và 26 tháng 5 năm 1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban quản lý rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh được thành lập trên cơ sở sáp nhập Ban quản lý rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh I và Ban quản lý rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh II nhằm bảo vệ nghiêm ngặt 15.953 ha rừng hiện có, xúc tiến khoanh nuôi phục hồi và nâng cao độ che phủ rừng phòng hộ đặc dụng. Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số, phương thức canh tác nương rẫy du canh và việc khai thác lâm sản bất hợp lý đã gây suy giảm nghiêm trọng diện tích rừng tự nhiên và đa dạng sinh học trong khu vực.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật rừng và công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
    2. Đề xuất hệ thống giải pháp về mặt tổ chức quản lý và kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi tự nhiên và phát triển bền vững tài nguyên rừng.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất đai và tài nguyên đất tự nhiên tại địa bàn khu bảo tồn.
    2. Đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, mạng lưới tuần tra, cơ chế hoạt động và biến động tài nguyên rừng giai đoạn 1994 - 2002 tại các nhóm xã.
    3. Phân tích cấu trúc, sinh trưởng của tầng cây cao và tầng cây tái sinh tại hai trạng thái rừng đặc trưng (rừng núi đá vôi và rừng phục hồi sau nương rẫy), làm căn cứ đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh và chính sách kinh tế - xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thực vật rừng tại hai trạng thái rừng phổ biến đang khoanh nuôi bảo vệ (rừng núi đá vôi và rừng phục hồi sau nương rẫy); cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động dân sinh kinh tế liên quan đến tài nguyên rừng.
  • Phạm vi không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh nằm trên tọa độ địa lý từ 22°30' đến 22°50' vĩ độ Bắc và từ 104°39' đến 104°50' kinh độ Đông, tổng diện tích tự nhiên 28.261 ha, trải dài trên địa bàn 9 xã thuộc các huyện Vị Xuyên và Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Khảo sát thực địa chi tiết tập trung tại xã Cao Bồ và xã Thanh Thủy.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp phản ánh quá trình quản lý giai đoạn 1994 - 2002; số liệu điều tra thực địa ngoại nghiệp được thực hiện và hoàn thành vào tháng 5 năm 2004.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kế thừa khung lý thuyết lâm sinh về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới của các tác giả quốc tế và trong nước:

  • Khung lý thuyết quốc tế: Luận điểm phân bố cụm của cây tái sinh tự nhiên (Richard và Poisson); lý thuyết "Tái sinh tuần hoàn thành bức khảm" trong rừng mưa hỗn loài (Aubreville, 1938); phân loại tái sinh phân tán liên tục ở loài chịu bóng và tái sinh vệt ở loài ưa sáng (Vanstelis, 1956); kết luận về nhu cầu bổ sung rừng trồng (Taylor, 1954; Bennard, 1955) hoặc các giải pháp lâm sinh duy trì cây tái sinh sẵn có dưới tán (Budowski, 1956; Catinot, 1965); vai trò khống chế của ánh sáng thông qua độ tàn che (Baur G.).
  • Khung lý thuyết và tiêu chuẩn trong nước: Phân loại 5 cấp khả năng tái sinh rừng theo mật độ cá thể của Vũ Đình Huệ (1969, 1975) (Cấp rất tốt: >12.000 cây/ha; Cấp tốt: 8.000 - 12.000 cây/ha; Cấp trung bình: 4.000 - 8.000 cây/ha; Cấp xấu: 2.000 - 4.000 cây/ha; Cấp rất xấu: <2.000 cây/ha); quan điểm sinh thái thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng; quy luật phân bố thống kê cây tái sinh của Ngô Kim Khôi và Nguyễn Hải Tuất; mối quan hệ tổ thành tầng cây cao và tầng cây tái sinh của Vũ Tiến Hinh (1991).

Khóa luận áp dụng kết hợp các phương pháp điều tra lâm học truyền thống và đánh giá có sự tham gia:

  • Phương pháp ngoại nghiệp:
    • Thu thập tài liệu thứ cấp về tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chương trình lâm nghiệp (Chương trình 327, Chương trình 661).
    • Phỏng vấn nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) đối với cán bộ Ban quản lý rừng và đại diện cộng đồng cư dân địa phương.
    • Điều tra sơ bộ xác định tuyến khảo sát; điều tra tỉ mỉ thông qua lập ô tiêu chuẩn (OTC) cố định diện tích 500 m² (mỗi trạng thái rừng lập 6 OTC, tổng cộng 12 OTC).
    • Tại mỗi OTC cây cao: Kiểm đếm toàn bộ cây gỗ, xác định tên khoa học, đo chu vi hoặc đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp/thước vanh, đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao hoặc sào khấc vạch, phân cấp chất lượng cây (Tốt, Trung bình, Xấu).
    • Điều tra tầng tái sinh: Trong mỗi OTC lập 20 ô dạng bản (ODB) diện tích 10 m² (kích thước 2 m × 5 m, tổng số 120 ODB/trạng thái rừng). Kiểm đếm tên loài, đo chiều cao vút ngọn, đánh giá phẩm chất (4 cấp) và xác định nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi).
    • Đo đếm độ tàn che, độ che phủ thảm tươi và thảm mục theo phương pháp chấm điểm (Hoàn toàn: 1,0 điểm; Một phần: 0,5 điểm; Không che phủ: 0 điểm).
  • Phương pháp nội nghiệp:
    • Phân tổ thống kê theo công thức Sturges đối với mẫu quan sát lớn hơn 30 cây: $m = 5 \lg N$; cự ly tổ $K = (X_{max} - X_{min}) / m$.
    • Tính toán đường kính bình quân ($\bar{D}{1.3}$), chiều cao bình quân ($\bar{H}{vn}$), phương sai, sai số tiêu chuẩn ($S$).
    • Xác định công thức tổ thành tầng cây cao và cây tái sinh theo tỷ lệ phần trăm số cá thể của các loài ưu thế (hệ số tổ thành lấy trên cơ sở tổng 10 phần). Tính toán trữ lượng thân cây đứng bình quân ($M$, đơn vị m³/ha).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Đặt vấn đề

Chương này phân tích vai trò phòng hộ môi trường sống và cung cấp lâm sản của tài nguyên rừng tại Việt Nam, đặc biệt là vùng miền núi phía Bắc nơi đất lâm nghiệp chiếm trên 60% diện tích tự nhiên. Tác giả nhấn mạnh thực trạng nghèo nàn, tập quán canh tác lạc hậu và địa hình hiểm trở tại tỉnh Hà Giang, nêu bật tính cấp thiết của việc bảo tồn khu rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh sau khi được sáp nhập năm 1999 nhằm ngăn chặn suy giảm diện tích rừng và đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

Chương II: Lược sử nghiên cứu

Tổng thuật các nghiên cứu lâm sinh trên thế giới từ thập niên 1930 đến 1960 về tái sinh rừng nhiệt đới, bao gồm quy luật tái sinh khảm, tái sinh phân tán, tái sinh vệt và nhân tố ánh sáng. Tại Việt Nam, chương trình bày các mốc nghiên cứu từ giai đoạn 1962 - 1969 của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tại sông Hiếu (Nghệ An), các công trình của Vũ Đình Huệ, Thái Văn Trừng, Trần Ngũ Phương, Vũ Tiến Hinh đến các nghiên cứu chuyên sâu về cây bản địa như Nghiến, Lim xanh. Đồng thời chỉ rõ tại Tây Côn Lĩnh chưa từng có công trình nghiên cứu định lượng cụ thể nào về tái sinh tự nhiên theo từng điều kiện hoàn cảnh.

Chương III: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể 2 mục tiêu nghiên cứu và 3 nội dung nhiệm vụ trọng tâm. Mô tả chi tiết quy trình ngoại nghiệp bao gồm phương pháp PRA, phương pháp điều tra sơ bộ và điều tra tỉ mỉ thông qua hệ thống OTC (500 m²) và ODB (10 m²), các chỉ tiêu thu thập (đường kính, chiều cao, phẩm chất, nguồn gốc cây con, độ tàn che). Cung cấp các công thức toán học thống kê nội nghiệp dùng để tổng hợp cấu trúc quần thụ và trữ lượng rừng.

Chương IV: Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực Tây Côn Lĩnh

Cung cấp số liệu toàn diện về tự nhiên và dân sinh kinh tế của khu bảo tồn:

  • Địa hình - Khí hậu: Địa hình núi cao chia cắt mạnh từ 200 m đến 2.416 m (đỉnh Tây Côn Lĩnh), độ cao bình quân 1.000 m. Nhiệt độ trung bình năm 22,6 - 23°C; mùa đông tại các xã vùng cao nhiệt độ xuống dưới 0°C (năm 1999 ghi nhận -4°C có băng tuyết). Lượng mưa trung bình 2.200 - 2.800 mm/năm; số giờ nắng 1.440 - 1.500 giờ/năm; 33 - 34 ngày sương mù/năm. Thủy văn gồm hệ thống suối Thanh Thủy (30 km), suối Sửu (15 km) đổ ra sông Lô và suối Nậm Khốc, Nậm Song đổ ra sông Chảy.
  • Thổ nhưỡng: 5 loại đất chính gồm đất Feralít mùn xám vàng (15.682 ha, chiếm 55,3%), đất mùn Alit trên núi cao trên 1.000 m (5.595 ha, chiếm 19,8%), đất Feralit vàng xám núi thấp (3.786 ha, chiếm 13,4%), đất Feralit xám núi trung bình (1.102 ha, chiếm 3,9%) và đất phát triển trên đá vôi (678 ha, chiếm 2,4%).
  • Dân sinh - Kinh tế - Xã hội: Dân số 11.982 người (1.910 hộ), mật độ bình quân 42 người/km² (xã Thanh Đức thấp nhất 24 người/km², xã Phương Tiến cao nhất 52 người/km²). Khu vực có 7 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Dao chiếm đa số (55,2% với 6.735 người), tiếp đến là H'Mông (1.614 người), Tày (1.365 người), Nùng (942 người), Cờ Lao (675 người), Hán (134 người) và Kinh (111 người, chiếm 0,8%). Lực lượng lao động dư thừa khoảng 2.000 người/năm. Cơ sở hạ tầng gồm 15 km Quốc lộ 2, các trường cấp I với 3.283 học sinh, mạng lưới y tế xã bình quân 566 người dân/1 cán bộ y tế.

Chương V: Kết quả và phân tích kết quả

Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm qua các phân mục:

  • Hiện trạng quỹ đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên 28.261 ha, đất lâm nghiệp chiếm 26.386 ha (trong đó đất có rừng 18.386 ha, chiếm 65,0%; đất chưa có rừng 7.716 ha); đất nông nghiệp chiếm 1.956 ha (6,9%); đất khác chiếm 180 ha (0,6%).
  • Thực trạng bộ máy quản lý: Ban quản lý chỉ có 10 người, phụ trách 28.261 ha. Mạng lưới bảo vệ chỉ có 3 trạm (mỗi trạm 2 người) đặt tại Phương Tiến, Cao Bồ và Lao Chải. Cán bộ chưa có biên chế kiểm lâm chính thức nên không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; trang bị chỉ có 2 xe Minsk và súng ngắn.
  • Biến động rừng 1994 - 2002 theo 4 nhóm xã: Nhóm I (Phương Tiến, Túng Sán, Phương Độ) duy trì rừng tốt, đất có rừng tăng từ 10,4% lên 16,7%. Nhóm II (Quảng Ngân, Cao Bồ) diện tích rừng tăng lên 29,3% nhưng chất lượng suy giảm (rừng giàu giảm từ 8,7% xuống 6,0%, rừng nghèo tăng lên 6,5%). Nhóm III (Xín Chải, Lao Chải) rừng nghèo tăng vọt lên 7,9%. Nhóm IV (Thanh Thủy, Thanh Đức) đất có rừng giảm từ 6,3% xuống 4,9%, cạn kiệt rừng giàu và rừng trung bình (0%).
  • Đặc điểm lâm sinh tầng cây cao và tầng cây tái sinh: Tổng hợp mật độ, cấu trúc tổ thành, đường kính, chiều cao, tỷ lệ phẩm chất và trữ lượng tại 12 OTC và 240 ODB.
  • Hệ thống giải pháp: Đề xuất phương án tổ chức bộ máy, mở rộng 7 trạm tuần tra bảo vệ, tiêu chuẩn khoanh nuôi phục hồi rừng, kỹ thuật trồng rừng hỗn loài và chính sách nông lâm kết hợp RVAC.

Chương VI: Kết luận - Tồn tại - Kiến nghị

Tóm tắt các phát hiện thực nghiệm về cấu trúc rừng, tổ chức quản lý; nêu rõ các hạn chế về thời gian, địa bàn khảo sát thực tế và đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương, ngành kiểm lâm tỉnh Hà Giang.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về hiện trạng tài nguyên rừng và tái sinh lâm học tại Tây Côn Lĩnh:

Chỉ tiêu lâm sinh Rừng núi đá vôi Rừng phục hồi sau nương rẫy
Mật độ tầng cây cao 460 - 900 cây/ha (TB: 674 cây/ha) 620 - 720 cây/ha (TB: 666 cây/ha)
Số loài / Số loài ưu thế (cây cao) 9 - 19 loài / 3 - 7 loài ưu thế 8 - 17 loài / 5 - 10 loài ưu thế
Loài cây cao ưu thế điển hình Nghiến, Đại Phong Tử, Sảng Nhung, Lát Hoa, Dẻ, Sến Chẹo Tía, Dẻ, Sồi Phảng, Chò Nâu, Trám, Bời Lời Nhớt
Đường kính bình quân ($\bar{D}_{1.3}$) 14,54 cm (13,02 - 17,25 cm) 14,96 cm (13,26 - 16,66 cm)
Chiều cao bình quân ($\bar{H}_{vn}$) 10,04 m (8,72 - 12,03 m) 10,66 m (10,04 - 11,88 m)
Tỷ lệ phẩm chất cây cao Tốt: 51,77%; TB: 18,80%; Xấu: 22,55% Tốt: 55,30%; TB: 28,60%; Xấu: 16,10%
Trữ lượng bình quân ($M$) 50,92 m³/ha (tăng 5,92 m³/ha so với 2002) 56,19 m³/ha (tăng 16,19 m³/ha so với 2002)
Mật độ tầng tái sinh 5.700 - 9.100 cây/ha (TB: 7.008 cây/ha) 5.650 - 8.450 cây/ha (TB: 6.267 cây/ha)
Cấp mật độ tái sinh (Vũ Đình Huệ) Cấp trung bình (4.000 - 8.000 cây/ha) Cấp trung bình (4.000 - 8.000 cây/ha)
Số loài tái sinh / OTC 25 - 37 loài 11 - 35 loài
Phân bố chiều cao tái sinh <0,5m: 37,0%; 0,5-1m: 17,8%; >2m: 16,1% <0,5m: 24,2%; 0,5-1m: 34,8%; >1,5m: 13,2%
Chất lượng cây tái sinh Đạt tiêu chuẩn: 57,5%; Xấu: 42,5% Đạt tiêu chuẩn: 51,8%; Xấu: 48,2%

Các giải pháp tác giả đề xuất từ kết quả nghiên cứu:

  1. Về tổ chức quản lý: Bổ sung biên chế Ban quản lý theo Quyết định số 08/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 (định mức 1 kiểm lâm/1.000 ha rừng, khu bảo tồn cần ít nhất 28 biên chế, thiếu 18 người so với hiện trạng 10 người; hoặc thiếu 4 người theo định mức 14 người của tỉnh Hà Giang). Chuyển biên chế kiểm lâm Ban quản lý sang ngạch kiểm lâm chính thức để có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Bổ sung 1 Phó trưởng ban. Tái cấu trúc mạng lưới tuần tra từ 3 trạm thành 7 trạm: Trạm 1 (Lao Chải), Trạm 2 (ngã ba Lao Chải - Thanh Thủy), Trạm 3 (km 10 Quốc lộ 2), Trạm 4 (bản Gia Tiến - Cao Bồ), Trạm 5 (bản Than Vè - Cao Bồ), Trạm 6 (bản Nậm Thăm - Quảng Ngân), Trạm 7 (bản Hợp Nhất - Túng Sán).
  2. Về kỹ thuật lâm sinh:
    • Khoanh nuôi phục hồi: Áp dụng cho đất trống cây rải rác, cây bụi có mật độ cây mục đích >300 cây/ha và chiều cao >50 cm; thời gian khoanh nuôi tự nhiên 5 năm, khoanh nuôi có trồng bổ sung 6 năm.
    • Trồng rừng: Áp dụng cho đất trống đồi núi trọc, trảng cỏ không có khả năng tái sinh; kỹ thuật phát băng rộng 1 m, cách băng 3 m song song đường đồng mức; đào hố 30 × 30 × 30 cm; trồng cây con có bầu; phương thức hỗn loài theo băng/đám; mật độ bình quân 1.500 cây/ha; trồng vụ xuân, tra dặm vụ thu; chăm sóc 3 năm (năm 1: 3 lần, năm 2: 2 lần, năm 3: 1 lần). Danh mục cây gỗ: Sa mộc, Đinh, Mỡ, Thông, Lát hoa, Pơ mu, Dẻ, Tếch, Nghiến, Bồ đề, Keo; cây đặc sản: Quế chi, Thảo quả, Tam thất sầu; lâm sản ngoài gỗ: Tre, Nứa, Luồng, Song mây.
    • Xúc tiến tái sinh tự nhiên: Với rừng núi đá vôi cần bảo vệ nghiêm ngặt chống chăn thả, chặt phá; với rừng phục hồi sau nương rẫy cần trồng dặm cây bản địa có giá trị, tỉa thưa cây chèn ép, chặt nuôi dưỡng cây xấu và phát dọn thảm tươi cây bụi cạnh tranh ánh sáng.
  3. Về kinh tế - xã hội: Giao đất khoán rừng ổn định 50 năm, miễn tiền thuê đất cho mục đích trồng rừng; hỗ trợ 2 triệu đồng/ha đối với hộ gia đình trồng cây lâm nghiệp quý hiếm; hỗ trợ phát triển mô hình trang trại nông lâm kết hợp RVAC (rừng - vườn - ao - chuồng).

Đóng góp của khóa luận: Tác giả đã bổ sung bộ dữ liệu định lượng thực địa đầu tiên về cấu trúc và khả năng tái sinh lâm học tại hai trạng thái rừng đại diện ở Tây Côn Lĩnh; đồng thời chỉ ra nghịch lý suy giảm chất lượng rừng tự nhiên (tăng rừng nghèo, giảm rừng giàu) tại các xã tiếp giáp hạ tầng giao thông và cửa khẩu biên giới trong giai đoạn 1994 - 2002.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế theo văn bản: Tác giả tự nhận định do năng lực chuyên môn còn hạn chế và điều kiện thực hiện chưa đầy đủ nên nghiên cứu chưa triển khai được trên toàn bộ diện tích 28.261 ha mà chỉ lựa chọn khảo sát thực nghiệm tại 2 trạng thái rừng (rừng núi đá vôi và rừng phục hồi sau nương rẫy) tại 2 xã đại diện (Cao Bồ và Thanh Thủy). Hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản của khu bảo tồn trong giai đoạn này chưa được cấp kinh phí đầu tư đầy đủ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra định lượng cấu trúc và tái sinh sang các trạng thái rừng còn lại trong khu bảo tồn (như kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới mưa mùa trên núi đất cao, rừng hỗn giao tre nứa); theo dõi sinh trưởng định kỳ trên các ô tiêu chuẩn định vị để đánh giá tốc độ tích lũy sinh khối và trữ lượng thân cây; nghiên cứu sâu hơn về đặc tính sinh thái hạt giống và kỹ thuật nhân giống các loài cây bản địa quý hiếm (Pơ mu, Nghiến, Thông tre).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Quản lý môi trường: Tham khảo phương pháp thiết kế ô tiêu chuẩn (OTC 500 m²), ô dạng bản (ODB 10 m²), phương pháp phỏng vấn PRA và quy trình tính toán thống kê mô tả cấu trúc lâm phần theo công thức Sturges.
  • Cán bộ kỹ thuật và quản lý tại các Ban quản lý rừng đặc dụng, Vườn quốc gia vùng núi phía Bắc (đặc biệt là các vùng núi đá vôi hiểm trở): Tham khảo mô hình phân tích diễn thế chất lượng rừng theo các nhóm xã tiếp cận hạ tầng giao thông, phương án bố trí mạng lưới trạm tuần tra liên xã và quy chuẩn khoanh nuôi phục hồi rừng bản địa kết hợp chính sách phát triển sinh kế trang trại RVAC.

Câu hỏi thường gặp

1. Mật độ và chất lượng cây tái sinh ở hai trạng thái rừng điều tra đạt mức độ nào theo thang đánh giá lâm sinh? Mật độ tầng cây tái sinh ở trạng thái rừng núi đá vôi đạt bình quân 7.008 cây/ha (dao động 5.700 - 9.100 cây/ha); ở trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy đạt bình quân 6.267 cây/ha (dao động 5.650 - 8.450 cây/ha). Cả hai trạng thái đều thuộc cấp tái sinh "Trung bình" (từ 4.000 đến 8.000 cây/ha) theo thang phân cấp của Vũ Đình Huệ (1969). Tỷ lệ cây tái sinh đạt phẩm chất tốt ở rừng núi đá vôi là 57,5% (cây xấu chiếm 42,5%); ở rừng phục hồi sau nương rẫy tỷ lệ cây tốt là 51,8% (cây xấu chiếm 48,2%).

2. Thực trạng cơ cấu bộ máy quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh năm 2004 gặp những bất cập gì? Ban quản lý chỉ có 10 cán bộ (chỉ có 1 nữ, trình độ từ trung học đến đại học) chịu trách nhiệm quản lý 28.261 ha đất tự nhiên. Mạng lưới bảo vệ chỉ bố trí được 3 trạm (mỗi trạm 2 người). Đội ngũ cán bộ chưa có biên chế kiểm lâm chính thức nên không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm hại tài nguyên rừng; trang thiết bị hỗ trợ rất thiếu thốn, toàn ban chỉ có 2 xe máy Minsk phân khối lớn và súng ngắn.

3. Tác giả đề xuất tái cấu trúc mạng lưới trạm bảo vệ rừng như thế nào? Tác giả đề xuất mở rộng từ 3 trạm lên 7 trạm bảo vệ bố trí tại các vị trí xung yếu:

  • Trạm 1: Đóng tại Ủy ban nhân dân xã Lao Chải (phụ trách xã Lao Chải, Xín Chải).
  • Trạm 2: Đóng tại ngã ba Lao Chải đi Thanh Thủy (phụ trách xã Thanh Thủy, Thanh Đức).
  • Trạm 3: Đóng tại Km số 10 Quốc lộ 2 Hà Giang - Thanh Thủy (phụ trách xã Phương Tiến, Phương Độ).
  • Trạm 4: Đóng tại bản Gia Tiến, xã Cao Bồ (phụ trách từ trung tâm Cao Bồ ra giáp xã Phương Tiến).
  • Trạm 5: Đóng tại bản Than Vè, xã Cao Bồ (phụ trách từ bên trong Cao Bồ đến xã Túng Sán).
  • Trạm 6: Đóng tại bản Nậm Thăm, xã Quảng Ngân (phụ trách xã Quảng Ngân).
  • Trạm 7: Đóng tại bản Hợp Nhất, xã Túng Sán (phụ trách xã Túng Sán).

4. Biến động diện tích và chất lượng rừng giai đoạn 1994 - 2002 tại các nhóm xã diễn ra ra sao? Tại Nhóm I (vùng cao núi đá, bảo vệ nghiêm ngặt), đất có rừng tăng từ 10,4% lên 16,7%, rừng giàu tăng từ 3,7% lên 4,6%. Tại Nhóm II, đất có rừng tăng lên 29,3% nhưng chất lượng giảm (rừng giàu giảm từ 8,7% xuống 6,0%, rừng nghèo tăng từ 1,5% lên 6,5%). Tại Nhóm III, rừng nghèo tăng vọt từ 0,8% lên 7,9%, rừng giàu giảm từ 2,2% xuống 1,8%. Tại Nhóm IV (tiếp giáp Quốc lộ 2 và cửa khẩu Thanh Thủy), đất có rừng suy giảm từ 6,3% xuống 4,9%, hoàn toàn không còn diện tích rừng giàu và rừng trung bình (0%), chỉ còn lại rừng nghèo kiệt (0,4%).

5. Tiêu chí chọn đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng và mật độ trồng rừng đề xuất là bao nhiêu? Đối tượng khoanh nuôi phục hồi là đất chưa có rừng gồm đất trống cây rải rác và đất trống cây bụi đáp ứng tiêu chí: mật độ cây mục đích đạt trên 300 cây/ha và chiều cao vút ngọn đạt trên 50 cm. Đối với diện tích không đủ khả năng tái sinh phải tiến hành trồng rừng mới, mật độ trồng hỗn loài bình quân được đề xuất là 1.500 cây/ha.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Kim Quý đã phân tích toàn diện thực trạng sử dụng đất, tổ chức quản lý và đặc điểm sinh trưởng lâm học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh giai đoạn 1994 - 2004. Bằng phương pháp điều tra thực nghiệm trên hệ thống ô tiêu chuẩn và ô dạng bản, nghiên cứu đã lượng hóa được mật độ, cấu trúc tổ thành và trữ lượng của tầng cây cao lẫn tầng cây tái sinh tại hai trạng thái rừng núi đá vôi và rừng phục hồi sau nương rẫy. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc kiện toàn biên chế kiểm lâm, thành lập 7 trạm tuần tra đến quy chuẩn kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và chính sách nông lâm kết hợp RVAC nhằm quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng đặc dụng.