đặt vấn đề quy hoạch lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung để giảm kinh phí đầu tư mà hiệu quả thiết thực. Trong khi đó, đa số các bệnh viện tuyến huyện các tỉnh miền núi, vùng đồng bằng đều chưa có cơ sở hạ tầng để xử lý thải y tế nguy hại, vì vậy người ta chủ yếu tự thiêu đốt bằng các lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện. Hiện nay, cả nước mới có 80 lò đốt hai buồng đạt tiêu chuẩn môi trường, với công suất từ 300 - 450kg/ngày. Thậm chí, theo ước tính các lò đốt hiện đại, đạt tiêu chuẩn môi trường mới đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu của các bệnh viện, khoảng 30% bệnh viện sử dụng lò đốt thủ công và 30% bệnh viện tự chôn lấp chất thải y tế nguy hại trong khu đất của bệnh viện.
Trong việc quản lý chất thải rắn, các bệnh viện còn để xảy ra hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý. Khi vận chuyển chất thải, chỉ có 53,0% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy; 53,4% bệnh viện nơi lưu giữ chất thải có mái che. đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường. Như vậy lượng chất thải y tế nguy hại tăng nhanh do việc áp dụng nhiều kỹ thuật y tế mới, sử dụng nhiều các thiết bị y tế dùng một lần như bơm tiêm nhựa và việc tăng số lượng xét nghiệm, liệu pháp và số ca mổ tính theo từng 12 bệnh nhân.
Số lượng các bệnh viện, trạm y tế ngày càng gia tăng, số lượng bệnh nhân cũng gia tăng theo. Do vậy khối lượng rác y tế thải vào môi trường cũng gia tăng gây áp lực rất lớn đối với các bệnh viện trong việc xử lí rác. Với khối lượng rác thải như vậy nếu không được xử lí đúng cách sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như cũng như cuộc sống của những cán bộ công nhân viên, người bệnh đang trực tiếp có mặt tại bệnh viện và những người sống xung quanh bệnh viện. Phân loại chất thải y tế Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm [21]: * Chất thải lâm sàng - Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn, bao gồm: những vật liệu thấm máu, thấm dịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng gạc, bông, găng tay, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lưu.
- Nhóm B: là các vật sắc nhọn, bao gồm: bơm kim tiêm, lưỡi và cán dao mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt và chọc thủng cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn. - Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, phát sinh từ các phòng xét nghiệm, bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu… - Nhóm D: là chất thải dược phẩm, bao gồm: Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng, thuốc gây độc tế bào. - Nhóm E: là các mô, cơ quan người, động vật, bao gồm: tất cả các mô của cơ thể, các cơ quan, tay chân, nhau thai, bào thai,xác súc vật. 13 * Chất thải phóng xạ Chất thải phóng xạ là chất thải có hoạt động riêng giống như các chất phóng xạ.
Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ gồm: chất thải rắn, lỏng khí. - Chất thải phóng xạ rắn, gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị, như: gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ. - Chất thải phóng xạ lỏng, gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ… - Chất thải phóng xạ khí, gồm: các chất khí lâm sàng như: 113Xe.
Các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ… * Chất thải hóa học Chất thải hóa học bao gồm các chất thải rắn, lỏng, khí. Chất thải trong cấc cơ sở y tế được phân thành hai loại: chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, axit béo, một số muối vô cơ, hữu cơ và chất thải hóa học nguy hại bao gồm: - Formaldehyde được sử dụng trong khoa giải phẫu, lọc máu, ướp xác và dùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác. - Các chất quang hóa có trong các dung dịch cố định và tráng phim hydroquinone, Kalihydroxide, Bạc, Glutaraldehyde. - Các dung môi: Các thuốc mê bốc hơi: Halothane (Fluothane), Enflurane (Ethrane), Isoflurane (Forane), Các hợp chất không có Halogen: Xylene, Acetone, Isopropanol, Toluene, Ethyl acetate, Acetonitrile, Benzene.
14 - Oxyte ethylene: được sử dụng để tiệt khuẩn các thiêt bị y tế, phòng phấu thuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn. Loại khó này có thể gây ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người. - Các chất hóa học hốn hợp: bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như: phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh, cồn ethanol, methanol, acide. * Bình chứa áp suất Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng O2, CO2, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần.
Các bình này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng. * Chất thải sinh hoạt Chất thải sinh hoạt là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim. - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Quản lý chất thải y tế Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lí, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Theo quy chế chất thải y tế, chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường.
Nguy hiểm nhất là các bệnh phẩm gồm các tế bào có dính máu, mủ, dịch, 15 nước lau rửa từ các khoa điều trị, xét nghiệm, phòng mổ, cấp cứu, khoa lây; các chất thải là dụng cụ phục vụ điều trị bệnh như bơm kim tiêm, ống thuốc, dao mổ; chất thải hoá học phát sinh từ các dung môi hữu cơ, huyết thanh quá hạn. Nếu không được xử lý triệt để, chúng sẽ là mầm bệnh nguy hại. Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ.
[23], [24], [30], [36] * Về quản lý rác thải: Theo Cục Bảo vệ môi trường, 70% lượng chất thải y tế nguy hại (như xilanh, kim tiêm, bệnh phẩm.) phát sinh ở thành thị. Riêng số chất thải nguy hại ở 1/3 Hà Nội và TP HCM đã chiếm 1/3 cả nước. Ở nhiều bệnh viện, loại rác này được thu gom cùng chất thải thông thường khác. Các cơ sở thường hợp đồng với công ty môi trường đô thị để thu rác.
Nhiều trường hợp chất thải nguy hại đã được phân loại và để riêng, nhưng sau đó lại bị đổ lẫn với các chất thải thông thường trước khi công ty môi trường đến thu gom. Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưa thực hiện. Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện ngành. Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử dụng chai nhựa, lọ truyền đã dùng để đựng kim tiêm.
Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân loại chất thải. 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải. 16 Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung (2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y tế và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện. Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43%, rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện.
Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn. Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường.