CHƯƠNG I- TỔNG QUAN 1. Tổng quan về giống Cyrtodactylus tại Lào, Thái Lan và Việt Nam 1. Đa dạng loài Cyrtodactylus tại Lào, Thái Lan và Việt Nam Thằn lằn chân ngón thuộc giống Cyrtodactylus Gray, 1827 là nhóm có mức độ đa dạng cao nhất trong họ Tắc kè (Gekkonidae) với 354 loài đã được mô tả [42]. Nhóm này có phân bố rộng từ Đông Nam Á, Đông Dương, Philippin, quần đảo Indo-Australia cho tới đảo Solomon (Hình 1) [4, 30, 31, 45].
Trong mười năm trở lại đây, có tới 175 loài mới được phát hiện trên thế giới [42]. Vùng phân bố của các loài Cyrtodactylus [13] Lào Hai loài thằn lằn chân ngón đầu tiên của Lào được ghi nhận và mô tả vào năm 1993, bao gồm: Thằn lằn chân ngón rừng (C. interdigitalis) Ulber, 1993 và Thằn lằn chân ngón ja-ru-ji (C. Từ năm 2004 đến năm 2014, 13 loài mới thuộc giống này được mô tả, bao gồm: Thằn lằn chân ngón buchard (C.
buchardi) David và cs, 2004; Thằn lằn chân 3 ngón ẩn (C. cryptus) Heidrich và cs, 2007; Thằn lằn chân ngón roesler (C. roesleri) Ziegler và cs, 2010; Thằn lằn chân ngón wayakone (C. wayakonei) Nguyễn và cs, 2010; Thằn lằn chân ngón lõm yên (C.
lomyenensis) Ngo & Pauwels, 2010; Thằn lằn chân ngón teynié (C. teyniei) David và cs, 2011; Thằn lằn chân ngón pagel (C. pageli) Schneider và cs, 2011; Thằn lằn chân ngón darevsky (C. darevskii) Nazarov và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón ja-ge-ri (C.
jaegeri) Lưu và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón khammouane (C. khammouanensis) Nazarov và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón multipored (C. multiporus) Nazarov và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón spe-la-us (C. spelaeus) Nazarov và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón vi-la-phong (C.
vilaphongi) Schneider và cs, 2014; nâng tổng số loài thuộc giống thằn lằn ngón được ghi nhận ở Lào lên đến 15 loài [42]. Từ năm 2015 đến 2020, 10 loài mới thuộc giống thằn lằn ngón Cyrtodactylus được phát hiện và mô tả, bao gồm: Thằn lằn chân ngón soudthichak (C. soudthichaki) Lưu và cs, 2015; Thằn lằn chân ngón bản sóc (C. bansocensis) Lưu và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón calame (C.
calamei) Lưu và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón hin-nậm-no (C. hinnamnoensis) Lưu và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón rufford (C. rufford) Lưu và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón sommerlad (C. sommerladi) Lưu và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón thathom (C.
thathomensis) Nazarov và cs, 2018; Thằn lằn chân ngón muang fuang (C. muangfuangensis) Sitthivong và cs, 2019; Thằn lằn chân ngón houaphan (C. houaphanensis) Schneider và cs, 2020; Thằn lằn chân ngón ngòi (C. ngoiensis) Schneider và cs, 2020 [42].
Số lượng các loài thuộc giống Cyrtodactylus tại Lào qua từng năm [42] Trong 3 năm trở lại đây (từ năm 2021 đến năm 2023), số lượng loài mới thuộc giống Cyrtodactylus được phát hiện tại Lào có dấu hiệu giảm xuống, chưa ghi nhận thêm loài mới nào thuộc giống Cyrtodactylus tại đây [42] (Hình 2). Các loài thuộc giống thằn lằn ngón Cyrtodactylus ở Lào thường được tìm thấy ở độ cao từ 150m (C. lomyenensis) cho tới 730m (C. wayakonei) so với mực nước biển [30, 43].
Sinh cảnh sống của các loài thuộc giống thằn lằn ngón ở Lào không quá đa dạng, chủ yếu là rừng thường xanh (C. pseudoquadrivirgatus,…) [16] và rừng núi đá vôi (C. Thái Lan Các loài thuộc giống thằn lằn ngón được mô tả và phát hiện ở Thái Lan từ khá sớm [42]. Năm 1827, loài thằn lằn chân ngón đầu tiên được ghi nhận ở Thái Lan là Thằn lằn chân ngón có dải (C.
Tiếp theo sau đó là 3 loài được ghi nhận và mô tả, bao gồm: Thằn lằn chân ngón moulmein (C. variegatus) Blyth, 1859; Thằn lằn chân ngón oldham (C. oldhami) Theobald, 1876 và Thằn lằn chân ngón pegu (C. 5 Từ năm 1893 đến năm 1916, không có ghi nhận thêm loài mới nào thuộc giống thằn lằn ngón tại Thái Lan [42].
Cho đến năm 1917, ghi nhận thêm loài Thằn lằn chân ngón trung gian (C. Từ năm 1921 đến năm 2010, đã có 17 loài thuộc giống thằn lằn ngón được ghi nhận tại Thái Lan, bao gồm: Thằn lằn chân ngón góc cạnh (C. angularis) Smith, 1921; Thằn lằn chân ngón campuchea (C. brevipalmatus) Smith, 1923; Thằn lằn chân ngón bốn sọc (C.
quadrivirgatus) và Thằn lằn chân ngón thái (C. zebraicus) Taylor, 1962; Thằn lằn chân ngón mắt trắng (C. elok) Dring và cs, 1979; Thằn lằn chân ngón bướm (C. papilionoides) Ulber và cs, 1991; Thằn lằn chân ngón interdigital (C.
interdigitalis) và Thằn lằn chân ngón jarujin (C. jarujini) Ulber, 1993; Thằn lằn chân ngón sumontha (C. sumonthai) Bauer và cs, 2002; Thằn lằn chân ngón chanhomea (C. chanhomeae) và thằn lằn chân ngón hổ (C.
tigroides) Bauer và cs, 2003; Thằn lằn chân ngón Thirakhupt (C. thirakhupti) Pauwels và cs, 2004; Thằn lằn chân ngón lớn (C. macrotuberculatus) Grismer và cs, 2008; Thằn lằn chân ngón mắt đỏ (C. erythrops) Bauer và cs, 2009; Thằn lằn chân ngón thắt lưng vàng (C.
auribalteatus) Sumontha và cs, 2010; Thằn lằn chân ngón dumnui (C. dumnuii) Bauer và cs, 2010; Thằn lằn chân ngón tenggol (C. leegrismeri) Chan và cs, 2010 [42]. Từ năm 2011 đến nay, số lượng các loài thuộc giống thằn lằn ngón được ghi nhận tại Thái Lan tương đối ổn định, trung bình 2 loài mới được mô tả mỗi năm (Hình 4) [42].
Tổng cộng có thêm 26 loài mới được phát hiện và mô tả, bao gồm: Thằn lằn chân ngón surin (C. surin) Chan và cs, 2011; Thằn lằn chân ngón nhiều đốm (C. astrum), Thằn lằn chân ngón bintangtingg (C. bintangtinggi) và Thằn lằn chân ngón lekagul (C.
lekaguli) Grismer và cs, 2012; Thằn lằn chân ngón sanook (C. sanook) Pauwels và cs, 2013; Thằn lằn chân ngón doisuthep (C. doisuthep) Kunya và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón khelang (C. khelangensis), Thằn lằn chân ngón sam-roi-yot (C.
samroiyot) và Thằn lằn chân ngón kunya (C. kunyai) Pauwels và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón saiyok (C. saiyok) Panitvong và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón wangkulangkul (C. wangkulangkulae) Sumontha và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón doi-inthanon (C.
inthanon) Kunya và cs, 2015; Thằn lằn chân ngón 6 ranong C. ranongensis Sumontha và cs, 2015; Thằn lằn chân ngón phetchaburi (C. phetchaburiensis) Pauwels và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón maelano (C. maelanoi) Grismer và cs, 2020; Thằn lằn chân ngón tak (C.
amphipetraeus) Chomdej và cs, 2020; Thằn lằn chân ngón thần cây (C. rukhadeva) Grismer và cs, 2021; Thằn lằn chân ngón stelatus (C. stellatus) Termprayoon và cs, 2021; Thằn lằn chân ngón fluvicavus (C. fluvicavus), thằn lằn chân ngón pa-la-u (C.
rivularis), Thằn lằn chân ngón uthai (C. uthaiensis) và Thằn lằn chân ngón ko-chang (C. kochangensis) Grismer và cs, 2022; Thằn lằn chân ngón monilatus (C. monilatus) Yodthong và cs, 2022; Thằn lằn chân ngón phu-kha (C.
phukhaensis) Chomdej và cs, 2022; Thằn lằn chân ngón đuôi gai (C. denticulatus) Chomdej và cs, 2023; Thằn lằn chân ngón thông-pha-phum (C. thongphaphumensis) Grismer và cs, 2023 [42]. Số lượng các loài thuộc giống Cyrtodactylus tại Thái Lan qua từng năm [42] Các loài thuộc giống thằn lằn ngón ở Thái Lan thường sống chủ yếu ở các khu vực rừng núi đá vôi với rừng cây rụng lá hỗn hợp (C.
fluvicavus,…) [9, 44] và khu vực rừng thường xanh (C. Ngoài ra, còn có một số loài sống ở các khu vực khác như: rừng tre gần suối đá (C. denticulatus) [8] hay trong các hang động (C. 7 khelangensis) [33]… Các loài này được tìm thấy ở các độ cao khác nhau từ 82m (C.
monilatus) cho tới 914m (C. thongphaphumensis) so với mực nước biển [10, 44]. Việt Nam Tính đến năm 2000, chỉ có 3 loài thuộc giống Cyrtodactylus được ghi nhận tại Việt Nam bao gồm: Thằn lằn chân ngón trung gian (C. intermedius) Smith, 1917; Thằn lằn chân ngón côn đảo (C.
condorensis) Smith, 1921; Thằn lằn chân ngón vằn lưng (C. Kể từ năm 2007, số lượng các loài thuộc giống này tại Việt Nam tăng lên với tốc độ trung bình trên 3 loài mới mỗi năm [42]. Từ năm 2003 đến năm 2008, 13 loài mới được phát hiện và mô tả với bộ mẫu chuẩn thu tại Việt Nam, bao gồm: Thằn lằn chân ngón phong nha kẻ bàng (C. phongnhakebangensis) Ziegler và cs, 2003; Thằn lằn chân ngón mắt đen (C.
nigriocularis) Nguyễn Ngọc Sang và cs, 2006; Thằn lằn chân ngón bà đen (C. badenensis) Nguyễn Ngọc Sang và cs, 2006; Thằn lằn chân ngón cao văn sung (C. caovansungi) Orlov và cs, 2007; Thằn lằn chân ngón châu quang (C. chauquangensis) Hoàng Xuân Quang và cs, 2007; Thằn lằn ngón ẩn (C.
cryptus) Heidrich và cs, 2007; Thằn lằn chân ngón ai–xen–man (C. eisenmanae) Ngô Văn Trí, 2008; Thằn lằn chân ngón g–ri–x–mer (C. grismeri) Ngô Văn Trí, 2008; Thằn lằn chân ngón hòn tre (C. hontreensis) Ngô Văn Trí và cs, 2008; Thằn lằn ngón huỳnh (C.
huynhi) Ngô Văn Trí và cs, 2008; Thằn lằn chân ngón giả bốn vạch (C. pseudoquadrivirgatus) Rösler và cs, 2008; Thằn lằn chân ngón tà kú (C. takouensis) Ngô Văn Trí và Bauer, 2008; Thằn lằn chân ngón ziegler (C. ziegleri) Nazarov và cs, 2008 [42].
Từ năm 2009 đến 2018, 23 loài mới thuộc giống này được ghi nhận và mô tả tại Việt Nam, bao gồm: Thằn lằn chân ngón cát tiên (C. cattienensis) Geissler và cs, 2009; Thằn lằn chân ngón bích ngân (C. bichnganae) Ngô & Grismer, 2010; Thằn lằn chân ngón phú quốc (C. phuquocensis) Ngô & Grismer, 2010; Thằn lằn chân ngón ro-x-lo (C.
roesleri) Ziegler và cs, 2010; Thằn lằn chân ngón yang bay (C. 8 yangbayensis) Ngô & Onn, 2010; Thằn lằn chân ngón cúc phương (C. cucphuongensis) Ngô & Onn, 2011; Thằn lằn chân ngón hương sơn (C. huongsonensis) Lưu và cs, 2011; Thằn lằn chân ngón martin (C.
martini) Ngô Văn Trí, 2011; Thằn lằn chân ngón bi đúp (C. bidoupimontis) Nazarov và cs, 2012; Thằn lằn chân ngón bù gia mập (C. bugiamapensis) Nazarov và cs, 2011; Thằn lằn chân ngón hoàng đức đạt (C. dati) Ngô Văn Trí, 2013; Thằn lằn chân ngón king sa da (C.
kingsadai) Ziegler và cs, 2013; Thằn lằn chân ngón phước bình (C. phuocbinhensis) Nguyễn và cs, 2013; Thằn lằn chân ngón tây nguyên (C. taynguyenensis) Nguyễn và cs, 2013; Thằn lằn chân ngón cực đông (C. cucdongensis) Schneider và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón pù hu (C.
puhuensis) Nguyễn và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón thương (C. thuongae) Phùng và cs, 2014; Thằn lằn chân ngón bô-b-rốp (C. bobrovi) Nguyễn và cs, 2015; Thằn lằn chân ngón ô ta (C. otai) Nguyễn và cs, 2015; Thằn lằn chân ngón sơn (C.
soni) Lê và cs, 2016; Thằn lằn chân ngón gia lai (C. gialaiensis) Lưu và cs, 2017; Thằn lằn chân ngón sơn la (C. sonlaensis) Nguyễn và cs, 2017; Thằn lằn chân ngón sang (C. sangi) Pauwels và cs, 2018 [42].
Số lượng các loài thuộc giống Cyrtodactylus tại Việt Nam qua từng năm [42] Trong 5 năm trở lại đây (từ năm 2019 đến năm 2023), một loạt các cuộc khảo sát được tiến hành tại các khu vực phân bố tiềm năng ở Việt Nam dẫn tới ghi 9 nhận và mô tả 11 loài mới thuộc giống này, bao gồm: Thằn lằn chân ngón bảy núi (C. septimontium) Murdoch và cs, 2019; Thằn lằn chân ngón tây bắc (C.