Chương 1 Tổng quan về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và quan hệ nhân quả trình những vấn đề lý luận căn bản của Luật bồi thường Thiệt hại hợp đồng (từ đây gọi “BTTHNHĐ”), bao gồm vai trò của Luật BTTHNHĐ trong việc tạo ra nghĩa vụ dân sự và chức năng của nó trong việc thực thi công lý phục hồi và ngăn ngừa các hành vi vi phạm dân sự; cũng như các vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ nhân quả, bao gồm bản chất, đặc tính và các chức năng của khái niệm này trong Luật BTTHNHĐ. Chương 2 Quan hệ nhân quả trong pháp luật một số quốc gia trình bày chế định quan hệ nhân quả trong pháp luật về bồi thường thiệt hại của pháp luật Anh, Mỹ; pháp luật Pháp; pháp luật Trung Quốc và trong bộ quy tắc mẫu về bồi thường thiệt hại ngoại hợp đồng Châu Âu. Pháp luật Anh, Mỹ được lựa chọn nghiên cứu vì sự dẫn đầu của các Tòa án và các học giả Anh, Mỹ trong việc nghiên cứu và phát triển các học thuyết về chế định này. Pháp luật Pháp được lựa chọn bởi đây là hệ thống pháp luật có những ảnh hưởng lớn đối với pháp luật Việt Nam.
Bộ quy tắc mẫu về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được lựa chọn bởi tính chất khái quát, hệ thống và chặt chẽ của nó. Đồng thời, đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu so sánh lâu dài, tiếp thu những học thuyết của Anh, Mỹ về quan hệ nhân quả nhưng đồng thời thể hiện được cách tiếp cận của pháp luật Châu Âu lục địa về khái niệm quan hệ nhân quả. Trung Quốc được lựa chọn bởi một số những cách tiếp cận riêng của hệ thống pháp luật nước này trong việc thiết lập quan hệ nhân quả. Trong chương này, người viết lần lượt khảo sát về cách thức mà quan hệ nhân quả trên thực tế được xác lập; về các điều kiện đủ quy định bởi luật hoặc án lệ để một hành vi là nguyên nhân thực tế có thể phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; và cách mà pháp luật các quốc gia phân bổ trách nhiệm bồi thường trong trường hợp có nhiều nguyên nhân gây thiệt hại.
Chương 3 Thực trạng pháp luật Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện trình bày thực trạng pháp luật Việt Nam về quan hệ nhân quả trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đưa ra kiến nghị của người viết hướng tới hoàn thiện chế định này trong Bộ luật dân sự. TỔNG QUAN VỀ BTTHNHĐ VÀ QUAN HỆ NHÂN QUẢ 1. Tổng quan về BTTHNHĐ 1. Vai trò của Bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng trong Luật Dân sự Quan hệ dân sự gồm có quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân.
Điều chỉnh mối quan hệ tài sản là luật về tài sản bao tức là các lợi ích vật chất định giá được bằng tiền. Trong khi đó, luật về nhân than điều chỉnh các lợi ích tinh thần, phi tài sản. Tài sản, trong hệ thống châu Âu lục địa, lại được phân loại thành vật quyền và trái quyền. Luật về trái quyền điều chỉnh các quyền yêu cầu có tính chất tài sản rang buộc các chủ thể cụ thể phát sinh chủ yếu từ các căn cứ là hợp đồng và hành vi gây thiệt hại – hai nguồn căn bản làm phát sinh các nghĩa vụ giữa chủ thể này và chủ thể khác 11.
Do đó, với tư cách là một trong hai nguồn làm phát sinh nghĩa vụ, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một lĩnh vực quan trọng của Luật Dân sự 12. Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng điều chỉnh các vấn đề liên qua đến các dân sự phạm tạo ra thiệt hại cho nạn nhân về tài sản hoặc tinh thần. Ngành luật này trả lời cho câu hỏi liệu có hay không có trách nhiệm dân sự áp đặt lên một người được cho là người đã gây thiệt hại đối với quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại hay không. Chức năng của BTTHNHĐ 1.
Chức năng phục hồi Phục hồi là chức năng trước hết và quan trọng nhất của Luật BTTHNHĐ. Theo đó, khi một người gây thiệt hại cho một người khác và sự gây thiệt hại này đảm bảo một số yếu tố nhất định, luật BTTHNHĐ đòi hỏi người gây thiệt hại phải khắc phục những mất mát mà mình gây ra cho nạn nhân. Nếu chiến thắng một vụ kiện BTTHNHĐ, tài sản sẽ chuyển từ sản nghiệp của người gây thiệt hại sang sản 11 Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật Lược khảo - Quyển II: Khế ước và Nghĩa vụ, 2:23,24. 6 nghiệp nạn nhân và nhờ đó phục hồi tình trạng kinh tế và tâm lý của nạn nhân trở về với thời điểm trước khi xảy ra sự kiện gây thiệt hại 13.
Trong vụ Clements kiện Clements, thẩm phán tòa án tối cao Canada viết về vai trò sửa chữa “sự lầm lỗi” xảy ra khi một người gây thiệt hại cho người khác do hành vi bất cẩn như sau: “Sự bồi thường trong các vụ kiện BTTHNHĐ do lỗi bất cẩn giả định mỗi quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn dựa trên nền tảng của nghĩa vụ quan tâm (duty of care) – bị đơn có lỗi và nguyên đơn đã chịu thiệt hại do lỗi đó. Nếu bị đơn vi phạm nghĩa vụ này và gây ra thiệt hại cho nạn nhân, luật pháp sửa chữa sự lầm lỗi trong mối quan hệ này bằng cách yêu cầu bị đơn bồi thường cho những thiệt hại mà nguyên đơn phải gánh chịu. Đây là căn bản của sự phục hồi, thỉnh thoảng được nhắc đến với tên gọi công lý phục hồi (corrective justive), thiết lập trách nhiệm bồi thường khi nguyên đơn và bị đơn liên kết với nhau trong mối quan hệ của người vi phạm và người chịu đựng thiệt hại của vi phạm đó.” 14 Chức năng phục hồi của luật BTTHNHĐ xuất phát từ ý niệm của chúng ta về sự công bằng. Rằng nếu một người nào đó tạo ra một tổn hại cho người khác, người gây thiệt hại không chỉ đáng trách về mặt đạo đức mà còn có bổn phận phải bồi thường cho những tổn hại mà mình gây ra.
Moore đã viết về ý niệm này như sau: Theo quan điểm của tôi, mục đích đúng đắn nhất của luật BTTHNHĐ là phụng sự công lý phục hồi. Công lý phục hồi đó khẳng định rằng tất cả chúng ta đều có nghĩa vụ đạo đức vô cùng căn bản là không được làm hại người khác. Khi chúng ta vi phạm nghĩa vụ này một cách sai trái, thì chúng ta có nghĩa vụ đạo đức thứ hai phải sửa chữa sự bất công mà chúng ta đã gây ra. Các quy định về BTTHNHĐ không gì hơn là phải buộc tuân thủ những nghĩa vụ đạo đức ẩn sau công lý phục hồi này.
Linden và Bruce P. Feldthusen, Canadian Tort Law, 8th ed (Markham, Ont: LexiNexis Butterworths, 2006), 4. 15 Moore, Causation and responsibility, 95. 7 Chức năng phục hồi của Luật BTTHNHĐ căn bản đến nỗi, nhiều nhà bình luận khẳng định rằng đây là hoặc ít nhất phải là chức năng duy nhất của luật BTTHNHĐ 16, mà Moore là một trong số những đại diện.
Nếu mục đích của luật này được nhìn nhận chỉ giới hạn trong việc phục hồi một thiệt hại, sẽ dẫn tới hai hệ quả. Thứ nhất, khoản bồi thường tối đa chỉ có thể bằng với thiệt hại trong thực tế. Các thiệt hại không rõ ràng, các cơ hội bị mất sẽ ít có khả năng được bồi thường. Thứ hai, các thẩm phán sẽ cẩn trọng trong việc xác định tất cả các yếu tố cần để xác lập trách nhiệm dân sự bao gồm mối quan hệ nhân quả.
Như vậy, sẽ khó có những trường hợp giải thích rộng rãi các nghĩa vụ luật định, xác lập quan hệ nhân quả một cách hời hợt, tính toán thiệt hại theo hướng có lợi cho nạn nhân để làm tăng trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ngược lại, các thẩm phán chịu ảnh hưởng của niềm tin này về mục đích của Luật BTTHNHĐ sẽ chú ý hơn trong việc khám phá sự thật của vụ kiện. Chức năng ngăn ngừa Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý với các học giả nêu trên. Các học giả như Batham (cha đẻ của thuyết công lợi), Austin, và Salmond tin rằng mục đích của Luật BTTHNHĐ không khác với mục đích của luật hình sự là bao 17.
Mục đích đó, chính nhằm trừng phạt những sai trái và ngăn ngừa những sự sai trái tương tự xảy ra trong tương lai 18. Chức năng ngăn ngừa thể hiện qua hai phương diện. Thứ nhất, những người bị buộc phải bồi thường cho những thiệt hại gây ra sẽ tránh rơi vào tình cảnh đó lần nữa bằng cách cố gắng tôn trọng các nghĩa vụ luật định của mình 19. Thứ hai, với những ai chưa vi phạm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có tác dụng cảnh cáo, đe dọa những người có ý định vi phạm nghĩa vụ của mình 20.
16 Linden và Feldthusen, Canadian Tort Law, 4. 17 Glanville Williams, “The Aims of the Law of Tort”, Current Legal Problems 4, số p. 18 Linden và Feldthusen, Canadian Tort Law, 7. 19 William Lloyd Prosser và c.v, Prosser and Keeton on Torts, 5th Edition, 5th edition (St.
Paul, Minn: West Group, 1984), 25. 8 Luật BTTHNHĐ hiện đại đang phát triển theo hướng rằng nó sẽ không chỉ nhằm đạt tới mục đích phục hồi một thiệt hại. Càng ngày càng nhiều các vụ kiện mà trong đó các thẩm phán áp đặt một mức bồi thường lớn hơn thiệt hại thực tế nhằm trừng phạt người vi phạm để đạt được mục đích ngăn ngừa các vi phạm tương tự xảy ra trong tương lai. Quan điểm này về chức năng của luật BTTHNHĐ sẽ dẫn đến hai hệ quả sau.
Thứ nhất, các thẩm phán với quyền sáng tạo luật ở các quốc gia Common Law có thể sẽ có ham muốn áp đặt một trách nhiệm bồi thường đối với bị đơn. Ham muốn này sẽ khiến thẩm phán có xu hướng mất đi thái độ khách quan khi xem xét các bằng chứng. Nó cũng dẫn đến nguy cơ thẩm phán diễn giải nghĩa vụ của bị đơn rộng ra ngoài phạm vi hợp lý, đặt ra những bổn phận quan tâm vô lý cho bị đơn, thiết lập quan hệ nhân quả trong những trường hợp bằng chứng không đủ rõ ràng. Trong những trường hợp mà quy định của luật không cho phép áp đặt trách nhiệm bồi thường, thẩm phán có thể viện dẫn đến mục tiêu chính sách ngăn ngừa để đưa ra những ngoại lệ cho trường hợp đó.
Người viết cho rằng mục đích ngăn ngừa này nên được giải thích một cách cẩn trọng, hạn hẹp, để không làm hỏng hóc đi tính chất của luật dân sự thường khá tách biệt với các ý tưởng về lên án và trừng phạt. Tổng quan về quan hệ nhân quả 1.