CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về động thái rừng Hệ sinh thái rừng luôn ở trạng thái vận động và biến đổi không ngừng, nó được biểu hiện dưới mọi hình thức muôn màu muôn vẻ: từ sự thay đổi trạng mùa, mở rộng phạm vi phân bố của quần thể, quá trình sinh trưởng và phát triển, cho đến hiện tượng tái sinh và diễn thế, sự thay đổi các nhân tố hoàn cảnh v .v… Tất cả những thay đổi đó của quần thể thực vật rừng được gọi chung là động thái rừng. Những nghiên cứu về động thái rừng được xoay quanh những vấn đề chính là: quá trình diễn thế rừng, quá trình sinh trưởng và phát triển rừng và tái sinh rừng.
Trước khi tìm hiểu về các quá trình của động thái rừng ta cần hiểu rõ một số khái niệm cơ bản sau đây: Diễn thế là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng. Việc xuất hiện lớp cây con tái sinh đánh dấu cho sự ra đời của một thế hệ rừng mới, nhưng dưới điều kiện tác động hoàn cảnh bên trong quần thể cùng với sự phù hợp của đặc tính sinh lý sinh thái loài cây tái sinh cho nên không phải trong mọi trường hợp tổ thành thế hệ cây tái sinh đều đồng nhất với tổ thành tầng cây cao của quần thể. Nếu thế hệ rừng mới thay thế thế hệ rừng cũ mà tổ thành rừng không có sự thay đổi cơ bản thì sự thay thế đó chỉ là sự thay thế đời cây này bằng đời cây khác (hay còn gọi là tái sinh rừng). Nếu thế hệ rừng mới thay thế có tổ thành loài cây khác với tổ thành thế hệ rừng cũ thì gọi là diễn thế rừng.
Như vậy, diễn thế rừng là sự thay thế thế hệ rừng này bằng thế hệ rừng khác mà trong đó tổ thành loài cây cao – nhất là loài cây ưu thế sinh thái có sự thay đổi cơ bản (hay nói rộng ra, diễn thế rừng là quá trình thay thế hệ sinh thái rừng này bằng một hệ sinh thái khác). Tái sinh rừng là việc xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng hoặc mất nhưng chưa lâu. Như vậy, tái sinh rừng là điểm mốc khởi đầu cho một thế hệ rừng mới. Sinh trưởng và phát triển được coi là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng, kết quả của quá trình này quyết định tới sản lượng rừng, do vậy, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nó có ảnh hưởng quyết định đến mục tiêu kinh doanh của ngành lâm nghiệp.
Sinh trưởng được coi là sự tăng lên về kích thước và trọng lượng của cây (quá trình biến đổi về lượng). Phát triển là tiến trình có tính quy luật của những biến đổi về chất lượng đã đạt đến điểm ngoặt để chuyển sang biến đổi về chất, nó thể hiện các giai đoạn phát triển của rừng (ví dụ: rừng non, chuyển sang rừng sào, rừng trung niên và cuối cùng là rừng thành thục). Xét về mặt thảm thực vật rừng (hay quần thụ cây gỗ) thì động thái là kết quả của các quá trình cụ thể sau: Tái sinh bổ sung (Recruitment): nẩy chồi, sản xuất hạt giống, phát tán hạt, nẩy mầm, hình thành cây mạ và phát triển cây con cho đến khi đạt kích thước bổ sung vào tầng cây cao (theo quan niệm điều tra). Sinh trưởng (Growth): sự tăng lên về kích thước (đường kính và chiều cao) của cây.
Cạnh tranh không gian (Geometric competition): sự tương tác về không gian sinh trưởng giữa các cây cá thể liên quan đến cấu trúc hình học của cây, nhìn chung thì các cây có kích thước hình học lớn có lợi thế hơn trong cạnh tranh không gian (quá trình phân hoá cây theo kích thước). Cạnh tranh tài nguyên (Resource competition): các nhân tố lập địa có thể hạn chế sinh trưởng và phát triển của một số loài nhất định. Chết (Mortality): sự chết của các cây cá thể. Ngoài các khái niệm và quá trình động thái liên quan đến thảm thực vật, trong tổng thể hệ sinh thái rừng còn có nhiều quá trình động liên quan đến động thái rừng, đó là các quá trình xác định mô thức của chu trình sinh hoá trong sự phát triển của một hệ sinh thái rừng; chúng có thể chia thành các nhóm sau đây: (1) Các quá trình ảnh hưởng đến đầu vào (Processes affecting inputs): - Phong hoá đất và đá - Cố định đạm - Kết tủa phân tử và hấp thụ khí LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
- Mất mát các chất hoà tan - Xói mòn - Điều chỉnh tiềm năng ôxy hoá khử (3) Các quá trình sinh học ảnh hưởng cân bằng giữa đầu vào và đầu ra (Biological processes affecting the balance of inputs and outputs): - Sản xuất thực của hệ sinh thái. - Sự phân huỷ và huy động vật chất. - Điều chỉnh các hợp chất hoá học đất. - Sản xuất các chất cảm nhiểm tương hỗ.
- Biến động trong sử dụng các nguyên tố. Tóm lại: Động thái rừng là một khái niệm rất rộng và bao gồm nhiều quá trình rất phức tạp. Nghiên cứu động thái rừng là một công việc hết sức khó khăn và càng đặc biệt khó khăn hơn đối với rừng tự nhiên nhiệt đới bởi tính phức hợp của nó. Các công trình nghiên cứu về động thái rừng tự nhiên nhiệt đới ở trên thế giới và ở Việt Nam đã dược công bố cho đến nay là không kể hết được.
Sau đây chỉ cập nhật một số công trình nghiên cứu quan trọng nhất liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là các công trình nghiên cứu các quá trình động thái của quần thụ cây gỗ trên 3 vấn đề chính: tái sinh, diễn thế và tăng trưởng. Các nghiên cứu về động thái rừng trên thế giới 1. Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng Có rất nhiều phương pháp đã được sử dụng để nghiên cứu quá trình diễn thế rừng, phương pháp được sử dụng nhiều nhất là mô hình hóa các quy luật biến đổi tầng cây cao và tầng cây bụi thảm tươi dưới các tác động thay đổi điều kiện môi trường. Hiện tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau trong nghiên cứu về lý thuyết diễn thế của các hệ sinh thái, trong đó có thể chia thành hai trường phái cơ bản: (i) Các lý thuyết về diễn thế dựa trên phản ứng của các cá thể sinh vật và quan niệm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 diễn thế là kết quả của các chiến lược thích nghi của các cá thể đối với môi trường.
(ii) Các lý thuyết diễn thế dựa trên phản ứng của toàn bộ hệ sinh thái (Shugart, H. Diễn thế dưới quan điểm của nhiều nhà sinh thái học, bao gồm sự biến đổi của các hệ tự nhiên và hiểu biết về nguyên nhân cũng như xu hướng của các biến đổi đó. Trong kho tài liệu về sinh thái học, đã có quá nhiều các công trình viết về diễn thế đến nỗi rất khó cho ai đó muốn tổng quan để đưa đến một sự phân loại hay tổng hợp về các lý thuyết, trường phái về diễn thế cũng như các mô hình toán đã được ứng dụng để nghiên cứu về diễn thế. (1984) đã sử dụng một loạt các mô hình máy tính vể diễn thế rừng (gọi là mô hình lỗ trống) để nghiên cứu phản ứng động thái lâu dài của hệ sinh thái rừng.
Các nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng các mô hình để phát triển lý thuyết và giải quyết các vấn đề trong hiểu biết của chúng ta về diễn thế. Một loạt các mô hình động thái rừng dựa trên cây cá thể đã được thảo luận trong công trình này như: mô hình cho rừng đồng loài, đều tuổi, mô hình cho rừng hỗn loài, đều tuổi, mô hình cho rừng đồng loài, khác tuổi và mô hình cho rừng khác loài, khác tuổi; các mô hình này lại được chia theo cách tiếp cận có chú ý đến không gian và không chú ý đến yếu tố không gian. Ngoài các phương pháp tiếp cận nghiên cứu diễn thế bằng mô hình hoá toán, các phương pháp nghiên cứu mô tả trên cơ sở nghiên cứu định vị lâu dài (thông qua hệ thống ô tiêu chuẩn sinh thái định vị) hoặc thông qua một hệ thống các ô nghiên cứu với các giai đoạn diễn thế khác nhau tồn tại ở cùng một thời điểm trên các địa điểm không gian khác nhau (phương pháp lấy không gian thay thế thời gian). Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy.
Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969).
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định. Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi. Van steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng. Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh.