Chương 1: Giới thiệu chung Hình 1.2 Phản ứng thực hiện khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ polymer hóa. Nội dụng 3: Tổng hợp copolymer poly(DPP-alt-BTz), poly(TPD-alt-BTz), terpoly- (DPP-ran-BTz-ran-TPD) bằng phương pháp aryl hóa trực tiếp trong điều kiện có nước và đánh giá một số tính chất của chúng. Thực hiện phân tích cấu trúc, tính chất quang và tính chất nhiệt của các polymer tạo thành (GPC, FT-IR, 1H-NMR, UV-Vis, PL, DSC).3 Các phản ứng polymer hóa dự kiến thực hiện. Trang 4 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Giới thiệu về polymer dẫn và bán dẫn Polymer thường được sử dụng làm ví dụ điển hình cho chất cách điện.
Do đó, việc chế tạo những vật liệu này là bán dẫn hoặc dẫn điện đòi hỏi cần phải có một sự thay đổi đáng kể cấu trúc hóa học của chúng nhằm cho phép các electron di chuyển trong vật liệu ở trạng thái rắn. Phần này tập trung giới thiệu một số khái niệm cơ bản, giải thích tính dẫn điện tử của polymer ở trạng thái rắn và thảo luận về các tính chất của polymer liên hợp, bên cạnh đó cũng đề cập đến các yếu tố để kiểm soát tính chất quang điện của chúng.1 Định nghĩa dẫn và bán dẫn Theo lý thuyết về cơ học lượng tử, các electron của một nguyên tử hoặc của một phân tử sẽ chiếm các mức năng lượng gián đoạn. Trong một phân tử polymer, có số lượng rất lớn các electron, nó sẽ chiếm vô số các mức năng lượng gần sát nhau từ đó hình thành nên dải điện tử. Để giảm thiểu năng lượng của hệ thống, các electron sẽ chiếm các orbitans có năng lượng từ thấp đến cao và tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli.
Ở trạng thái cơ bản, mức năng lượng cao nhất mà electron chiếm được gọi là mức HOMO (highest occupied molecular orbital), và vùng năng lượng mà các electron chiếm, được gọi là vùng hóa trị. Bên cạnh đó, mức năng lượng thấp nhất mà electron không chiếm được, gọi là mức LUMO (lowest unoccupied molecular orbital), như vậy, ở trạng thái cơ bản, các electron sẽ không thể chiếm được các mức năng lượng từ mức LUMO trở lên, vùng chứa các mức năng lượng này được gọi là vùng dẫn. Sự chênh lệch năng lượng giữa mức LUMO và HOMO được gọi là năng lượng vùng cấm (Eg, band-gap) của vật liệu [11, 12]. Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Năng lượng vùng cấm có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng dẫn điện tử của vật liệu.
Thực vật, khi một vật liệu có band-gap cao (Eg > 3 eV), các electron của vật liệu này chủ yếu nằm và chiếm toàn bộ vùng hóa trị, các electron khó có thể nhảy lên mức năng lượng cao trong vùng dẫn để di chuyển, do đó vật liệu này là vật liệu cách điện. Trong trường hợp ngược lại (Eg < 0.5 eV), khi vùng hoá trị và vùng dẫn trùng nhau một phần (bán kim loại), hoặc khi vùng hoá trị vẫn còn các orbital trống (kim loại), các điện tử có thể dễ dàng chiếm các orbital trống nằm sát bên trên và từ đó, chúng di chuyển trong khối vật liệu. Những vật liệu này là vật liệu dẫn điện.1: Dải năng lượng của các loại vật liệu dẫn điện, cách điện và bán dẫn. Khi năng lượng vùng cấm khác 0, nhưng tương đối nhỏ, 0.0 eV, một phần điện tử ở vùng hóa trị có thể cư trú trong vùng dẫn khi ở trạng thái cân bằng.
Điều này làm cho chúng có độ dẫn điện thấp nhờ vào sự chuyển động của số ít các điện tử trong vùng dẫn và/hoặc chuyển động của số ít các lỗ trống trong vùng hóa trị. Tuy nhiên, có thể tác động đến sự phân bố của electron trong các vật liệu này bằng cách sử dụng các nguồn năng lượng từ bên ngoài, để tăng mật độ electron trên vùng dẫn và / hoặc lỗ trống ở vùng hóa để chúng có độ dẫn điện cao hơn. Những vật liệu như thế được gọi là vật liệu bán dẫn. Không giống như kim loại, nhiệt độ tăng sẽ có lợi cho tính dẫn điện của vật liệu bán dẫn vì mật độ các điện tử sẽ tăng lên trong vùng dẫn, tuân theo phân bố Maxwell-Boltzmann.
Bên cạnh đó, việc pha tạp vật liệu bán dẫn với các chất cho hoặc nhận điện tử cũng sẽ giúp làm tăng độ dẫn của chúng [11, 12]. Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết 2.2 Polymer cấu trúc liên hợp Một polymer là một đại phân tử được tạo thành thông qua việc lặp lại đơn vị cấu thành – thường được gọi là monomer, chúng kết nối với nhau bằng liên kết cộng hóa trị thông qua phản ứng polymer hóa. Polymer cấu trúc liên hợp là polymer mà trong mạch của nó chứa các electron bất định xứ do các liên kết đơn và liên kết đôi xen kẽ với nhau tạo thành. Sự liên hợp làm giảm năng lượng tổng của phân tử và giúp nâng cao độ ổn định.
Sự liên hợp của các liên kết π có thể được tìm thấy tương tự như trong graphite, graphene và ống nano cacbon, những phân tử liên hợp vòng thơm này tuân thủ theo định luật Huckel và cho thấy được sự ổn định đáng kinh ngạc [13-16].2: Cấu trúc diene liên hợp đơn giản tạo nên mạch liên hợp π. Cấu trúc liên hợp này được thể hiện bằng màu đỏ trong ví dụ về một loại polymer liên hợp.1: Một số polymer cấu trúc liên hợp. Band gap Độ dẫn điện đã doping Polymer Cấu trúc (eV) (S.5 105 Polyacetylene Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Polyfluorene 3.0 10 - 103 Các polymer liên hợp là những chất bán dẫn hữu cơ có khả năng dẫn điện bởi band gap thấp và nó có khả năng hấp thụ một dải bước sóng lớn bởi các tương tác của orbital nguyên tử. Các orbital nguyên tử liên hợp chứa liên kết đơn và đôi thay phiên nhau dọc toàn bộ mạch phân tử tạo nên mạch liên hợp, ví dụ như trong polyacetylene, mỗi nguyên tử cacbon có 3 orbital lai hóa sp2 (được tạo thành từ sự lai hóa của 1 orbital s và 2 orbital p của nguyên tử cacbon) và một orbital Pz.
Ba orbital lai hóa sp2 sẽ tạo thành các liên kết σ giữa nguyên tử C này với nguyên tử C liền kề và với nguyên tử hydro. Bên cạnh đó, hai orbital Pz của 2 nguyên tử C liền kề định hướng vuông góc với mặt phẳng phân tử và chồng lấp vào nhau, từ đó tạo nên tính liên hợp toàn mạch phân tử polymer.3 Kiểm soát tính chất quang điện tử của polymer liên hợp Vật liệu hữu cơ liên hợp đã được nghiên cứu và được ứng dụng vào các thiết bị điện tử, hiệu năng của các thiết bị này chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các tương tác liên phân tử giữa các phân tử hữu cơ độc lập. Vì vậy, việc thiết kế cấu trúc của các loại vật liệu ở mức độ phân tử là rất quan trọng. Thiết kế mạch liên hợp π sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết tính chất hấp thụ và phát xạ của vật liệu bởi điều này ảnh hưởng tới các mức năng lượng orbital của chúng.
Các mức năng lượng này được đặc trưng bởi mức HOMO, LUMO và độ rộng năng lượng vùng cấm, những thông số này là yếu tố chính, xác định tính chất quang điện của polymer liên hợp, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến thiết bị sử dụng loại vật liệu này. Nhìn chung, sự thay đổi năng lượng vùng cấm của polymer liên hợp có thể đạt được bằng cách sửa đổi cấu trúc của chúng, thông qua các phản ứng tổng hợp hóa học hữu cơ và từ đây, dẫn đến việc hình thành một số nguyên tắc thiết kế để điều chỉnh các đặc tính quang điện tử của vật liệu polymer liên hợp. Lĩnh vực hiệu chỉnh các mức HOMO, LUMO để từ đó thay đổi độ rộng vùng cấm được gọi chung là “band-gap engineering” [17-20]. Việc lựa chọn đơn vị liên hợp của chuỗi chính là thông số đầu tiên ảnh hưởng đến các đặc tính của vật liệu polymer liên hợp.
Cấu trúc đơn giản nhất là poly (axetylen), đơn giản chỉ là sự thay thế của liên kết đơn và liên kết đôi. Cấu trúc này có một số nhược điểm, như độ ổn định hóa học thấp và việc kiểm soát cấu trúc khó khăn do khả năng các liên kết này là hỗn hợp của cấu hình cis hoặc trans. Việc sử dụng các đơn vị lặp lại thơm cho phép thu được vật liệu ổn định hơn, có thể dễ dàng được chức năng hóa chẳng hạn như gắn thêm mạch nhánh để tăng tính tan cho polymer. Sự ổn định này có được nhờ năng lượng vòng thơm, điều này thường đi kèm với sự tăng độ rộng vùng cấm Eg của vật liệu.
Ví dụ, poly (phenylene) có độ rộng vùng cấm là 3.2 eV và có tính cách điện. Trong khi đó, độ rộng vùng cấm của tinh thể trans-polyacetylene là khoảng 1. Trang 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Hình 2.3: Biểu diễn mức năng lượng của các orbital của thiophene, oligothiophenes và polythiophene. Nhìn chung, sự chênh lệch năng lượng giữa HOMO và LUMO sẽ giảm nếu độ dài mạch liên hợp trong phân tử polymer được tăng lên, điều này có được do việc tăng số lượng orbitan xen phủ lẫn nhau tạo thành hệ thống liên hợp.
Như vậy, độ rộng vùng cấm có thể được hiệu chỉnh thông qua cách này, tuy nhiên, nó bị hạn chế bởi vì khi độ dài liên hợp đạt tới mức bão hòa và độ rộng vùng cấm sẽ không tiếp tục giảm được nữa mà sẽ chững lại. Giá trị của Eg về mặt lý thuyết tỷ lệ tuyến tính với nghịch đảo của số đơn vị lặp lại n, mối quan hệ này thường được áp dụng cho các oligome ngắn (n <12), việc tăng n vượt quá giá trị này có thể gây ra việc giảm Eg không đáng kể do hạn chế của sự phân li electron liên hợp, được dự đoán bởi tính không ổn định của Peierls, rằng một hệ tuần hoàn một chiều mà các ion mang một điện tử (phân li hoàn hảo) sẽ không ổn định. Kết quả của hiện tượng này làm cho dạng phân li hoàn toàn của các polymer liên hợp bị bất lợi. Do đó, các polymer liên hợp có đặc tính là các liên kết đơn và đôi xen kẽ, tạo cho chúng có đặc tính bán dẫn nội tại với mức Eg nhìn chung lớn hơn 1.5 eV, chứ không phải là tính chất dẫn như kim loại [21, 22].
Trang 10 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Hình 2.4: Hiện tượng không ổn định của Peierls và sự định xứ điện tử trong poly (axetylen). Một kỹ thuật khác có thể tinh chỉnh độ rộng vùng cấm là trong mạch liên hợp π sử dụng luân phiên các đơn vị giàu điện tử (đơn vị cho điện tử - donor – D) và các đơn vị nghèo điện tử (đơn vị nhận điện tử - acceptor – A).