Đặt vấn đề Loài Staphylococcus aureus là một trong số các vi khuẩn ký sinh ở trên da và niêm mạc, nhiều nhất là ở mũi. Có khoảng 10-40% người khỏe mạnh mang S. Khi có những tổn thương ở da và niêm mạc kèm theo những rối loạn về chức năng thì các nhiễm trùng do S. aureus dễ dàng xuất hiện.
Hiện nay, hiện tượng S. aureus kháng kháng sinh trở nên khá phổ biến do tình trạng sử dụng kháng sinh ngày càng nhiều ở cộng đồng với những kháng sinh có hoạt phổ rộng, nhiều loại kháng sinh khác nhau với liều lượng không đúng. Hiện tượng kháng thuốc không chỉ xuất hiện ở các vi khuẩn trong bệnh viện mà còn trên các vi khuẩn ở cộng đồng ngoài bệnh viện. Việc nghiên cứu mức độ kháng thuốc ở vi khuẩn là vấn đề rất cần thiết nhằm theo dõi diễn biến kháng thuốc, dự báo xu thế kháng thuốc và đề ra những biện pháp thích hợp nhằm hạn chế mức gia tăng tính kháng thuốc từ đó giúp cho việc sử dụng kháng sinh ở cộng đồng hợp lý và tiết kiệm (Trần Thị Như Hoa, 2012) [6].
Theo một kết quả khảo sát tính chất chống đối kháng sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 cho thấy các chủng S. aureus phân lập từ bệnh phẩm có đến 94,1% chủng kháng Penicillin, 52,9% kháng Ciprofloxacin, 52% kháng Amoxillin và 12,5% kháng Getamicin (Nguyễn Thị Kê và cs, 2006) [8]. Cũng theo một báo cáo khác từ tháng 8/2012 - tháng 8/2013, một nghiên cứu với 143 chủng S. aureus về tỉ lệ đề kháng KS của S.299 bệnh phẩm, được phân lập tại phòng Vi sinh bệnh phẩm, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả cho thấy: S. aureus chiếm 23,6%, đa số được phân lập từ bệnh phẩm mủ (36,3%), dịch âm đạo (18,9%), nước tiểu (11,9%) và phân (10,5%). Qua kết quả từ kháng sinh đồ (KSĐ), tỉ lệ đề kháng của S. 2 aureus với các KS là 93,7% với Penicilline G, 65,0% với Erythromycine, 60,8% với Kanamycine, 58% với Clindamycine.
Tỉ lệ MRSA là 39,2% (Nguyễn Hữu An, 2013) [1]. Với việc phát hiện tính kháng thuốc ở vi khuẩn hiện nay chủ yếu dựa trên cơ sở nuôi cấy vi sinh vật trên môi trường chứa kháng sinh. Đây là phương pháp đã được khẳng định có độ chính xác cao nhưng tốn thời gian và phải thực hiện nhiều thao tác nuôi cấy phức tạp. Việc phát hiện chậm tính kháng thuốc ở vi khuẩn cũng là nguyên nhân góp phần làm cho các chủng vi khuẩn kháng thuốc có cơ hội lây lan.
Do đó, việc phát hiện nhanh vi khuẩn kháng thuốc là một yêu cầu cần thiết góp phần giảm nguy cơ lây lan của các vi khuẩn kháng thuốc này, đặc biệt trong môi trường bệnh viện. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu công bố về các chỉ thị phân tử liên quan đến tính kháng thuốc kháng sinh ở vi khuẩn nói chung và S. Đây là những tiền đề cho việc ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử trong phát hiện nhanh vi khuẩn kháng thuốc. Có nhiều phương pháp phát hiện nhanh vi khuẩn kháng thuốc đã được nghiên cứu công bố như giải trình tự gen, các kỹ thuật PCR, DNA arrays, ELISA… Trong đó PCR là kỹ thuật đơn giản, không yêu cầu thiết bị phức tạp nên rất thuận lợi trong việc áp dụng thực tiễn chẩn đoán.
Xuất phát từ thực tiễn đời sống, trên cơ sở căn cứ vào năng lực nghiên cứu của Khoa CNSH và CNTP - Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên - Đại Học Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Bƣớc đầu nghiên cứu phƣơng pháp phát hiện nhanh tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) kháng thuốc bằng kỹ thuật PCR” Trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát mức độ kháng thuốc kháng sinh của S. aureus tại các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên trong thời gian từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 5 3 năm 2015 và bước đầu nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật PCR trong phát hiện nhanh vi khuẩn này kháng Methicillin - 1 trong những thuốc kháng sinh được điều trị phổ biến và có tỷ lệ kháng thuốc cao. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát được thực trạng kháng thuốc của vi khuẩn S.
aureus tại Bệnh viện Đa khoa Thái Nguyên và bước đầu nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật PCR phát hiện nhanh S. aureus kháng Methicillin. Yêu cầu của đề tài - Khảo sát được tỷ lệ vi khuẩn S. aureus kháng thuốc trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên.
- Phân lập được vi khuẩn S. aureus kháng thuốc. - Ứng dụng được kỹ thuật PCR phát hiện nhanh S. aureus kháng thuốc.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Đánh giá được thực trạng S. aureus kháng thuốc trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên và nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phát hiện nhanh S. aureus kháng thuốc.
Ý nghĩa trong thực tiễn Nghiên cứu được kỹ thuật phát hiện nhanh S. aureus kháng thuốc bằng kỹ thuật PCR. Kết quả nghiên cứu là tiền đề cho việc xây dựng phương pháp phát hiện nhanh vi khuẩn kháng kháng sinh góp phần điều trị có hiệu quả bệnh nhân nhiễm trùng, hạn chế sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu về Staphylococcus: Staphylococcus có nguồn gốc từ tiếng Latinh, Staphylo (chùm nho) và coccus (hạt). Phân loại của vi khuẩn Staphylococcus như sau: o Giới: Prokaryote o Phân loại: Firmicute o Lớp: Firmibacteria o Họ: Micrococceae o Giống: Staphylococcus 2. Lịch sử phát hiện Ngày 9 tháng 4 năm 1881, bác sĩ người scotland Alexander Ogston đã trình bày tại hội nghị lần thứ 9 Hội phẫu thuật Đức một báo cáo khoa học trong đó ông sử dụng khái niệm tụ cầu khuẩn (Staphylococcus), trình bày tương đối đầy đủ vai trò của vi khuẩn này trong các bệnh lý sinh mủ trong lâm sàng. aureus do Robert Koch (1843-1910) phát hiện vào năm 1878, phân lập từ mủ ung nhọt và Loius Pasteur (1880) đều nghiên cứu tụ cầu khuẩn từ thời kỳ đầu của lịch sử ngành vi sinh vật (VSV) học.
Năm 1926, Julius von Daranyi là người đầu tiên phát hiện mối tương quan giữa sự hiện diện của hoạt động men coagulase huyết tương của vi khuẩn với khả năng gây bệnh của nó. Tuy nhiên mãi đến năm 1948, phát hiện này mới được chấp nhận rộng rãi Báo cáo của (Nguyễn Thị An. Đặc điểm hình thái Staphylococcus là vi khuẩn gram dương, hình cầu đường kính 0,5 - 1,5 µm, có thể đứng riêng lẻ, từng đôi, từng chuỗi ngắn, hoặc từng chùm không đều giống như chùm nho. Đây là loại vi khuẩn không di động và không sinh bào tử, thường cư trú trên da và màng nhày của người và động vật máu nóng.
Năm 1871, Recklinghausen thu được cầu khuẩn trong thận của bệnh nhân chết do bệnh nhiễm khuẩn huyết. Năm 1880, Alexander Ogston chứng minh được áp-xe sinh mủ là do cầu khuẩn dạng chùm và Ogston được công nhận là người khám phá và đặt tên cho tụ cầu - Staphylococcus vào năm 1882. Năm 1884, Rosenbach nghiên cứu và đặt tên cho cầu khuẩn tạo khuẩn lạc màu vàng là Staphylococcus pyrogen aureus (Scott E Martin, 2000) [41]. Danh pháp và phân loại của S.
aureus Vi khuẩn tụ cầu vàng thuộc giới Eubacteria, ngành Firmicutes, lớp Cocci, bộ Bacillales, họ Staphylococcaceae, giống Staphylococcus, loài Staphylococcus aureus, tên khoa học là Staphylococcus aureus (Baba T, 2002) [17]. Trên phương diện gây bệnh, tụ cầu khuẩn được chia thành hai nhóm chính: tụ cầu có coagulase và tụ cầu không có coagulase. aureus gây bệnh ngộ độc thực phẩm là tụ cầu có coagulase. Nhờ enzyme này mà trên môi trường nuôi cấy có máu, vi khuẩn tạo nên các khuẩn lạc màu vàng nên còn được gọi là tụ cầu vàng (Phạm Văn Phúc, 2013) [10].
6 Đặc điểm cấu trúc của Staphylococcus aureus (Hình 2.1: Hình thái Staphylococcus aureus 2. Cấu trúc di truyền của S. aureus Hiện nay người ta đã thành công trong giải trình tự gen của các chủng tụ cầu vàng được kí hiệu: Newman, COL, UMRSA 252, MW2, MSSA476, N315, Mn50, N315, Mu50, RF122… (Baird R.H, 1995) [18] , Steven và cộng sự đã thành công trong việc giải trình tự bộ gen dài 2809422 bp của chủng S. Kết quả giải trình tự đã được đăng kí trên Genbank với mã số: CP000046.1 cho hệ gen và CP000045 cho hệ gen plasmid.
Theo đó, trình tự gen của tụ cầu vàng có chứa ít nhất các cặp G-C, điều này gây ra mối quan ngại về sự chuyển gen từ các chủng tụ cầu vàng tới các tác nhân gây bệnh Gram dương khác (Gill S. Trong số các chủng S. aureus phân lập từ các mẫu thực phẩm, tỷ lệ giống enterotoxigenic được ước tính khoảng 25%. Tại pháp, trong số 61 chủng phân lập từ phomat và sữ tươi có 15,9% chủng là giống enterotoxigenic.
Ở pháp, trong số 332 chủng S. aureus được phân lập từ nhiều loại thức ăn có 57% chủng chứa các 7 gen SEG, SEB, SEI, và SEJ suất hiện với tần số cao hơn hẳn chủng chứa gen SEA và SEE, trước đây vốn được xem là chiếm ưu thế (Lâm Quốc Hùng, 2009) [7]. Các chỉ thị phân tử của Staphylococcus aureus Chủng S. aureus sản xuất ra một enzyme ngoại bào chịu nhiệt nuclease (thermonuclease [Tnase] ) với tần số tương ứng với thời điểm mà nó sản xuất ra coagulase (Brakstad O.
Các Tnase là một loại protein có khối lượng phân tử 17. Nó là một endonuclease, làm giảm cả DNA, RNA và hoạt động của enzyme có thể chống lại nhiệt độ 1000C trong vòng 1 giờ (Brakstad O. Trong các phản ứng PCR phát hiện S. aureus, người ta thường dùng các mồi chuyên biệt để phát hiện gen nuc mã hóa nuclease chịu nhiệt (Sasaki T, 2010) [40].
và cộng sự (2010) đã sử dụng gen nuc trong việc nhận dạng loài Staphylococci dương tính với cogulase bằng phương pháp mulyiplex- PCR (Sasaki T, 2010) [40]. và cộng sự (1992) đã sử dụng gen nuc làm gen chỉ thị trong phát hiện S. aureus bằng phản ứng khuếch đại gen nuc (Brakstad O. và cộng sự (1991) đã sử dụng gen nuc làm gen chỉ thị để phát hiện S.
aureus trong sữa nghi ngờ bị nhiễm tụ cầu vàng (Wilson I. Ngoài ra theo nghiên cứu của Pinto B. và cộng sự (2004) cho biết có thể dùng các mồi chuyên biệt khác để phát hiện các gen mã hóa độc tố ruột (enterotoxin), gen tst (gây hội chứng sốc), gen eta và etb (mã hóa độc tố A và B gây mảng tróc), vùng đệm rDNA 16-23S và (Pinto B, 2005) [37]. Còn có nhiều phương pháp dựa trên PCR được dùng để phát hiện nhanh tụ cầu như inter-IS256 PCR, spa typing (Wei H.
L, 2002) [43], hay phương pháp DNA fingerprinting cũng như phương pháp RLPD (Randomly Amplified Polymorphic DNA) để phân loại các dòng S.