Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam" được tác giả Lý Văn Quyền thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, mã số 62 38 01 05, bảo vệ năm 2014) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Sơn và PGS. Dương Tuyết Miên.
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm khoảng 51% lực lượng lao động và giữ vai trò nòng cốt trong sản xuất nông nghiệp, chăm sóc gia đình và nuôi dạy con cái. Truyền thống văn hóa Việt Nam luôn gắn liền với những phẩm chất của phụ nữ như cần cù, chịu khó, vị tha và coi trọng hôn nhân, gia đình. Tuy nhiên, cùng với quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội, đô thị hóa và hội nhập quốc tế, tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện đã có những biến động phức tạp về cả quy mô, tính chất và mức độ nguy hiểm. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, năm 1995 toàn quốc có 4.151 bị cáo nữ bị xét xử sơ thẩm hình sự; đến năm 2002 tăng lên 5.603 người (tăng 135% so với năm 1995); năm 2003 là 6.543 người; năm 2007 đạt 7.231 người (tăng 111% so với năm 2003) và năm 2012 là 6.895 người (tăng 105% so với năm 2003). Trung bình mỗi năm giai đoạn 2003 - 2012 có khoảng 6.570 bị cáo nữ bị xét xử sơ thẩm.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: kể từ năm 2003 cho đến thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện trên phạm vi toàn quốc dưới góc độ tội phạm học. Các nghiên cứu trước đó chỉ tiếp cận vấn đề ở phạm vi hẹp theo từng tội danh đơn lẻ, tại một địa phương cụ thể, hoặc chỉ tập trung vào hoạt động của một lực lượng chức năng nhất định.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xây dựng hệ thống các giải pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện nhằm kiềm chế sự gia tăng và từng bước làm giảm tình trạng phụ nữ phạm tội ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. Để thực hiện mục tiêu này, luận án giải quyết ba nội dung nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá toàn diện tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2012 (bao gồm thực trạng tội phạm rõ, tội phạm ẩn, tính chất cơ cấu và diễn biến).
- Xác định, phân tích các nhân tố và điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, quản lý nhà nước và tư pháp đóng vai trò là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm do nữ giới thực hiện.
- Đưa ra các dự báo khoa học về tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện đến năm 2020 và đề xuất hệ thống các biện pháp phòng ngừa tương ứng.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện; nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện; và hệ thống các biện pháp phòng ngừa loại tội phạm này. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn là 10 năm (từ năm 2003 đến năm 2012); phạm vi dự báo và kiến nghị giải pháp hướng tới giai đoạn tiếp theo đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề phụ nữ phạm tội theo từng hướng tiếp cận chuyên ngành và liên ngành:
Các nghiên cứu quốc tế
- Hướng tiếp cận sinh học: Công trình của Cesare Lombroso ("Tội phạm nữ giới", 1878) và viết chung với Guglielmo Ferrero ("Tội phạm nữ giới, mại dâm nữ và những người phụ nữ bình thường", 1900) đã sử dụng phương pháp thực nghiệm giải phẫu hộp sọ, não bộ và các đặc điểm thể chất của nữ giới. Luận án chỉ ra hạn chế của Lombroso là tuyệt đối hóa yếu tố bẩm sinh di truyền mà xem nhẹ tác động qua lại của môi trường xã hội. Luận văn thạc sĩ của tác giả Affiliation (Đại học Rutgers, Hoa Kỳ, 1997) nghiên cứu 87 nữ phạm nhân bạo lực để chỉ ra mối liên hệ giữa nồng độ testosterone cao với hành vi bột phát, thiếu kiểm soát.
- Hướng tiếp cận tâm lý học: Các công trình phân tâm học của Sigmund Freud ("Phân tâm học nhập môn" 1890, "Những nghiên cứu về sự cuồng loạn" 1895, "Giải mã những giấc mơ" 1899) giải thích tính thụ động của nữ giới và xung đột nội tâm liên quan đến mặc cảm Oedipus. Luận án tiến sĩ của Adelene (Đại học Cape Town, Nam Phi, 2011) nghiên cứu về con đường dẫn đến tội phạm bạo lực của nữ tù nhân thông qua lăng kính giới tính và chấn thương tâm lý.
- Hướng tiếp cận xã hội học: Meda Chesney-Lind và Lisa Pasko (2004) với tác phẩm "Tội phạm nữ giới: những trẻ em gái, phụ nữ và tội phạm" phân tích số liệu tại nhà tù California (1992 - 2001), chỉ rõ nguyên nhân từ nghèo đói, bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và lạm dụng chất gây nghiện. Giáo sư Ulrich Eisenberg (Cộng hòa Liên bang Đức, 2005) trong giáo trình "Tội phạm học" chỉ ra tỷ lệ phạm tội của phụ nữ thường cao ở nhóm tội trộm cắp và lừa đảo, đồng thời phân tích hiện tượng tội phạm ẩn cao ở nữ giới. Giáo trình của Giáo sư A.I. Dolgovoi (Nga, 2008) tại Chương 30 đã so sánh tội phạm nữ với tội phạm nam giai đoạn 1997 - 2004, ghi nhận mức độ phạm tội của nữ thấp hơn nam từ 5 đến 8 lần nhưng có xu hướng gia tăng ở lĩnh vực kinh tế và tội phạm có tổ chức. Nhóm tác giả Barbara Raffel Price và Natalie J. Sokoloff (2004) trong "Hệ thống tư pháp hình sự và phụ nữ" sử dụng dữ liệu FBI giai đoạn 1965 - 2000 để dự báo xu hướng thu hẹp khoảng cách tỷ lệ phạm tội giữa hai giới.
- Hướng tiếp cận liên ngành: Otto Pollak (1950) trong "Tội phạm nữ giới" kết hợp xã hội học, sinh học và tâm lý học để phân tích các yếu tố nội tiết tố, chu kỳ thai sản và khả năng che giấu hành vi phạm tội của phụ nữ. R. Barri Flowers (1995) trong "Một khám phá về tội phạm và tội phạm do nữ giới thực hiện" khảo sát toàn diện từ cơ cấu nhân khẩu học, mối liên hệ với tệ nạn xã hội đến công tác quản lý cải tạo phạm nhân nữ tại Hoa Kỳ.
- Các bài báo chuyên khảo: M. O'Keefe (1997) nghiên cứu so sánh nhóm nữ phạm nhân giết người do bị bạo hành gia đình với các nhóm phạm nhân khác; S. Karstedt (2000) nghiên cứu tác động của phong trào giải phóng phụ nữ và biến động cơ cấu lao động tại Đức đối với tỷ lệ tội phạm nữ.
Các nghiên cứu trong nước
- Sách chuyên khảo và đề tài khoa học: Đề tài cấp Nhà nước KX-04-14 do Bộ Công an chủ trì (Nxb CAND, 1994) chỉ dành hơn 2 trang nhận xét khái quát về tội phạm do nữ giới thực hiện; GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm (2001) trong "Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm" (Chương 28) phân tích dữ liệu 5 năm (1990 - 1994) và đề xuất 3 nhóm giải pháp; PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh (2007) trong "Một số vấn đề lí luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam" so sánh cơ cấu bị cáo nữ giai đoạn 2001 - 2003 với giai đoạn 1986 - 1988 đối với 28 hành vi phạm tội.
- Luận án và luận văn chuyên ngành: Các luận án tiến sĩ luật học trước đây chỉ khảo sát yếu tố giới tính như một biến số phụ trong một tội danh hẹp: Đỗ Đức Hồng Hà (2006, tội giết người, nữ chiếm 5,53%); Hoàng Văn Hùng (2007, tội trộm cắp tài sản, nữ chiếm 3,66%); Nguyễn Tuyết Mai (2007, tội phạm ma túy, nữ chiếm 13,31%); Lê Đăng Doanh (2008, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nữ chiếm 13,33%); Nguyễn Văn Hương (2008, tội mua bán phụ nữ, nữ chiếm 36,60% toàn quốc và 58,65% mẫu nghiên cứu); Đặng Thanh Nga (2007, tâm lý người chưa thành niên phạm tội, nữ chiếm 3,2%); Chu Văn Đức (2009, sự thích ứng của phạm nhân nữ trong trại giam); Phạm Ngọc Cường (2013, phòng ngừa tội phạm do phụ nữ gây ra của lực lượng Cảnh sát nhân dân giai đoạn 2006 - 2012). Luận văn thạc sĩ của Trần Công Phan (1996) nghiên cứu giai đoạn 1990 - 1994; Trần Thị Hải Duyên (2011) chỉ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2004 - 2009).
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trong nước đã công bố chưa phản ánh đầy đủ bức tranh tội phạm do nữ giới thực hiện trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 10 năm (2003 - 2012); chưa đo lường đầy đủ tội phạm ẩn, chỉ số tội phạm và đặc điểm nạn nhân; chưa xây dựng được cơ chế tác động nguyên nhân đa tầng và hệ thống phòng ngừa chuyên biệt cho nữ giới. Luận án giải quyết toàn diện các khoảng trống này thông qua việc xử lý hệ thống dữ liệu thống kê tư pháp quốc gia kết hợp điều tra xã hội học thực nghiệm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng các khái niệm, phạm trù cơ bản của tội phạm học hiện đại: tình hình tội phạm (mức độ, cơ cấu, tính chất, diễn biến), nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, nhân thân người phạm tội và hệ thống phòng ngừa tội phạm.
Phương pháp nghiên cứu tổng quát là phương pháp nghiên cứu thực nghiệm tội phạm học, chứng minh các giả thuyết khoa học bằng luận cứ thực tiễn được thu thập từ thực tế tư pháp và khảo sát thực địa.
Các nhóm phương pháp cụ thể
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Phân tích thứ cấp dữ liệu: Thu thập số liệu thống kê khởi tố, truy tố của Cục Thống kê tội phạm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC); số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm (Biểu mẫu 1A) của Phòng Tổng hợp - Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) giai đoạn 2003 - 2012; số liệu dân số của Tổng cục Thống kê; số liệu so sánh quốc tế từ Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC, năm 2010).
- Nghiên cứu hồ sơ bản án: Chọn mẫu ngẫu nhiên 434 bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật (giai đoạn 2003 - 2008) có bị cáo là nữ tại 19 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Ninh Bình, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai, Bình Dương, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sơn La, Thái Bình, Cà Mau, Trà Vinh.
- Điều tra bằng bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến): Khảo sát trực tiếp phạm nhân nữ đang chấp hành án phạt tù tại hai cơ sở giam giữ thuộc Tổng cục 8 (Bộ Công an): Trại giam Ngọc Lý (tỉnh Bắc Giang) và Trại giam Cái Tàu (tỉnh Cà Mau). Tổng số phát ra 406 phiếu, loại bỏ 38 phiếu không đủ thông tin, thu được mẫu hợp lệ gồm 368 phiếu.
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
- Dữ liệu từ 368 phiếu hỏi phạm nhân nữ được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS.
- Sử dụng các đại lượng thống kê mô tả: số tuyệt đối, số tương đối (tỷ lệ phần trăm), số trung bình, chỉ số người phạm tội trên 100.000 dân để xây dựng hệ thống bảng biểu so sánh.
- Phương pháp kiểm chứng giả thuyết và phân tích logic:
- Sử dụng phương pháp chứng minh trực tiếp giả thuyết nghiên cứu dựa trên các chứng cứ định lượng thu được từ số liệu thống kê và bản án; kết hợp các phương pháp so sánh (giữa nữ và nam, giữa Việt Nam và quốc tế), phương pháp phân tích và tổng hợp logic.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2012
Chương 1 tập trung phân tích thực trạng (mức độ, tính chất, tội phạm rõ, tội phạm ẩn) và diễn biến của tội phạm do nữ giới thực hiện trong 10 năm.
1. Mức độ của tội phạm rõ và chỉ số người phạm tội
Trong giai đoạn 2003 - 2012, Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam đã xét xử sơ thẩm 65.704 bị cáo nữ (chiếm 7,3% tổng số bị cáo) và 841.123 bị cáo nam (chiếm 92,7% tổng số bị cáo). Trung bình mỗi năm có 6.570 bị cáo nữ bị xét xử sơ thẩm. So sánh tương quan cho thấy số bị cáo nữ bằng 7,8% số bị cáo nam (cứ 100 người phạm tội bị xét xử thì có khoảng 7 đến 8 người là nữ).
Bảng 1: Số lượng bị cáo nữ và chỉ số người phạm tội nữ so với nam (2003 - 2012)
| Năm |
Bị cáo nữ (người) |
Dân số nữ (nghìn người) |
Chỉ số nữ (người/100.000 dân nữ) |
Bị cáo nam (người) |
Dân số nam (nghìn người) |
Chỉ số nam (người/100.000 dân nam) |
| 2003 |
6.543 |
41.147 |
16 |
61.822 |
39.755 |
156 |
| 2004 |
6.754 |
41.395 |
16 |
68.699 |
40.042 |
172 |
| 2005 |
6.181 |
41.871 |
15 |
73.137 |
40.522 |
180 |
| 2006 |
6.421 |
42.313 |
15 |
84.665 |
40.999 |
207 |
| 2007 |
7.231 |
41.395 |
17 |
84.764 |
41.448 |
205 |
| 2008 |
7.045 |
42.772 |
16 |
91.696 |
41.956 |
219 |
| 2009 |
7.149 |
43.162 |
17 |
92.823 |
42.524 |
218 |
| 2010 |
6.101 |
43.946 |
14 |
80.782 |
42.986 |
188 |
| 2011 |
5.384 |
44.395 |
12 |
92.294 |
43.444 |
212 |
| 2012 |
6.895 |
44.511 |
16 |
110.441 |
43.809 |
252 |
| Trung bình |
6.570 |
— |
15 |
84.112 |
— |
201 |
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu TANDTC và Tổng cục Thống kê trong luận án)
Chỉ số người phạm tội nữ trung bình của Việt Nam là 15 người/100.000 dân nữ, thấp hơn hơn 12 lần so với chỉ số của nam giới (201 người/100.000 dân nam). So sánh quốc tế theo dữ liệu UNODC năm 2010, chỉ số người phạm tội nữ của Việt Nam thấp hơn nhiều quốc gia: Mêxicô (33,1), Bungari (74,7), Ucraina (102,6), Thổ Nhĩ Kỳ (166,7), Liên bang Nga (193,5), Cộng hòa Séc (206,5), Cộng hòa Pháp (246,0), Cộng hòa Liên bang Đức (406,1).
2. Đo lường tội phạm ẩn của nữ giới
- Tội phạm ẩn tự nhiên: Kết quả khảo sát 368 nữ phạm nhân tại hai trại giam cho thấy 41,3% (152 người) thừa nhận từng thực hiện các hành vi phạm tội khác ngoài bản án đang chấp hành mà không bị cơ quan chức năng phát hiện. Lý do không bị phát hiện gồm: tự che giấu (35,7%), nạn nhân không tố giác (8,6%), người khác biết nhưng không tố giác/ngăn cản (43,3%), lý do khác (11,4%).
- Tội phạm ẩn nhân tạo: So sánh số bị can nữ bị khởi tố (73.759 người) với số bị cáo nữ bị xét xử (65.704 người) cho thấy tỷ lệ ẩn nhân tạo ước tính dưới 6,5% tổng số người phạm tội bị phát hiện.
- Tội phạm ẩn thống kê: Phân tích 434 bản án cho thấy không có sai số về số người phạm tội, nhưng có sai số về số lượng hành vi phạm tội do việc gộp nhiều hành vi độc lập vào một vụ án hoặc chỉ thống kê theo tội danh nặng nhất.
- Đánh giá chung: Tổng tỷ lệ tội phạm ẩn do nữ giới thực hiện ước tính dưới 48,8%, thấp hơn tỷ lệ ẩn chung của toàn bộ tội phạm tại Việt Nam (66,19%). Nguyên nhân là do thủ đoạn phạm tội của nữ giới thường đơn giản, tỷ lệ bị bắt quả tang cao (60,38% trong mẫu 434 bản án).
3. Cơ cấu và tính chất của tội phạm do nữ giới thực hiện
Xét theo 12 nhóm tội phạm của Bộ luật Hình sự (BLHS), tội phạm do nữ giới thực hiện tập trung cao nhất ở 3 nhóm (chiếm trên 86% tổng số bị cáo nữ):
- Nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng: 25.241 bị cáo (38,42%).
- Nhóm tội phạm về ma túy: 16.023 bị cáo (24,37%).
- Nhóm tội xâm phạm sở hữu: 15.450 bị cáo (23,51%).
Các nhóm tội còn lại chiếm tỷ lệ thấp: xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự (7,35%); xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (2,96%); xâm phạm trật tự quản lý hành chính (1,58%); tội phạm về chức vụ (0,94%); môi trường (0,38%); xâm phạm quyền tự do dân chủ (0,24%); xâm phạm hoạt động tư pháp (0,14%); xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình (0,08%); xâm phạm an ninh quốc gia (0,03%).
Bảng 2: Cơ cấu 15 tội danh có tỷ lệ bị cáo nữ cao nhất (2003 - 2012)
| TT |
Điều luật BLHS |
Tên tội danh |
Số bị cáo nữ |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Điều 194 |
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy |
15.760 |
23,99 |
| 2 |
Điều 248 |
Tội đánh bạc |
13.605 |
20,71 |
| 3 |
Điều 138 |
Tội trộm cắp tài sản |
8.424 |
12,82 |
| 4 |
Điều 249 |
Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc |
5.028 |
7,65 |
| 5 |
Điều 139 |
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản |
2.696 |
4,10 |
| 6 |
Điều 254 |
Tội chứa mại dâm |
2.674 |
4,07 |
| 7 |
Điều 104 |
Tội cố ý gây thương tích |
2.573 |
3,92 |
| 8 |
Điều 136 |
Tội cướp giật tài sản |
1.570 |
2,39 |
| 9 |
Điều 133 |
Tội cướp tài sản |
1.108 |
1,69 |
| 10 |
Điều 202 |
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ |
1.084 |
1,65 |
| 11 |
Điều 255 |
Tội môi giới mại dâm |
985 |
1,50 |
| 12 |
Điều 140 |
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản |
844 |
1,28 |
| 13 |
Điều 93 |
Tội giết người |
827 |
1,26 |
| 14 |
Điều 180 |
Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả |
686 |
1,04 |
| 15 |
Điều 119 |
Tội mua bán phụ nữ (nay là mua bán người) |
652 |
0,99 |
| 16 |
— |
Các tội phạm khác |
7.187 |
10,94 |
| — |
— |
Tổng số |
65.704 |
100,00 |
(Nguồn: Số liệu thống kê TANDTC trích trong luận án)
Về địa bàn phân bố (theo số liệu 73.759 bị can nữ của VKSNDTC), tội phạm tập trung nhiều nhất tại: TP. Hồ Chí Minh (10.019 người, chiếm 13,58%), Hà Nội (7.829 người, chiếm 10,62%), Tây Ninh (3.086 người, chiếm 4,19%), Đồng Nai (2.499 người, chiếm 3,39%), Nghệ An (2.018 người, chiếm 2,74%), Sơn La (1.807 người, chiếm 2,45%), Kiên Giang (1.736 người, chiếm 2,35%), Quảng Ninh (1.666 người, chiếm 2,26%), Hải Phòng (1.611 người, chiếm 2,18%), Đắk Lắk (1.460 người, chiếm 1,98%). Các tỉnh khác chiếm 54,26%.
4. Diễn biến tội phạm
Giai đoạn 2003 - 2012 ghi nhận sự gia tăng về mức độ ở các tội danh: môi giới mại dâm, đánh bạc, tổ chức đánh bạc và vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Đáng chú ý, số người chưa thành niên phạm tội là nữ năm 2012 tăng gấp 2 lần so với năm 2003, có tốc độ gia tăng cao hơn so với người chưa thành niên phạm tội là nam.
Chương 2: Nguyên nhân của tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam
Chương 2 phân tích các nhóm nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm do nữ giới thực hiện:
1. Nhóm nguyên nhân về kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục
- Áp lực kinh tế và phân hóa xã hội: Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, thu nhập bấp bênh ở nông thôn và đô thị đẩy nhiều phụ nữ vào hoàn cảnh kinh tế cùng quẫn, biến việc phạm tội (buôn bán ma túy, cờ bạc, trộm cắp, lừa đảo, mại dâm) thành phương thức kiếm sống.
- Tệ nạn xã hội và lối sống tiêu cực: Sự xâm nhập của lối sống thực dụng, tiêu xài lãng phí, tệ nạn ma túy và cờ bạc đã kéo theo sự suy thoái đạo đức của một bộ phận phụ nữ.
- Khiếm khuyết trong môi trường giáo dục gia đình và nhà trường: Nhiều gia đình thiếu hoàn thiện (ly hôn, bạo lực gia đình, cha mẹ nghiện ngập hoặc thiếu quản lý) đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của trẻ em gái, dẫn đến hành vi lệch chuẩn và vi phạm pháp luật khi trưởng thành.
2. Nhóm nguyên nhân trong quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Sơ hở, buông lỏng trong công tác quản lý cư trú, nhân hộ khẩu tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và các vùng kinh tế trọng điểm.
- Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát các cơ sở kinh doanh dịch vụ có điều kiện dễ phát sinh tệ nạn (nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke, vũ trường).
- Công tác phát hiện, quản lý các đối tượng nữ có nguy cơ cao (phụ nữ không nghề nghiệp, từng có tiền án, tiền sự, nghiện ma túy) ở cơ sở còn nhiều hạn chế, thiếu sự phân loại và theo dõi chặt chẽ.
3. Nhóm nguyên nhân trong hoạt động chống tội phạm và giáo dục, cải tạo phạm nhân nữ
- Hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với phụ nữ còn thụ động, chủ yếu tập trung xử lý khi sự việc đã xảy ra.
- Công tác giáo dục, dạy nghề, cải tạo trong các trại giam chưa thực sự gắn kết với nhu cầu thị trường lao động dành riêng cho nữ giới; chưa giải quyết triệt để các rào cản tâm lý, định kiến giới.
- Công tác quản lý, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng còn mang tính hình thức, thiếu nguồn lực hỗ trợ tài chính, sinh kế, khiến nguy cơ tái phạm ở phụ nữ vẫn tồn tại.
Chương 3: Dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam
1. Dự báo tình hình tội phạm đến năm 2020
- Tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện có xu hướng tiếp tục gia tăng về quy mô và tính chất phức tạp ở các thành phố lớn và các địa bàn biên giới, ven biển.
- Các tội phạm phi bạo lực, vụ lợi (lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội phạm ma túy, đánh bạc, môi giới mại dâm) vẫn chiếm tỷ trọng chi phối.
- Xu hướng nữ giới tham gia các đường dây tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia và tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội là nữ có nguy cơ tăng cao.
2. Hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm
Luận án đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Biện pháp kinh tế - xã hội: Thực hiện hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, đào tạo nghề cho lao động nữ nông thôn và đô thị; hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn; hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cho lao động nữ.
- Biện pháp văn hóa - giáo dục và gia đình: Nâng cao nhận thức pháp luật và giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho nữ giới; củng cố thiết chế gia đình, phòng chống bạo lực gia đình; phát huy vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc tuyên truyền, quản lý, hỗ trợ hội viên và các gia đình có nguy cơ.
- Biện pháp quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự: Siết chặt quản lý nhân hộ khẩu, quản lý các ngành nghề kinh doanh nhạy cảm; tăng cường tuần tra, canh gác bảo vệ tài sản; nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc giám sát, hỗ trợ các nhóm phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt.
- Biện pháp tư pháp và cải tạo phạm nhân: Nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án do phụ nữ thực hiện, bảo đảm tính nghiêm minh và các chính sách nhân đạo đối với phụ nữ; đổi mới nội dung giáo dục, dạy nghề phù hợp với nữ phạm nhân trong các trại giam; xây dựng cơ chế phối hợp giữa trại giam, chính quyền địa phương, các đoàn thể và gia đình trong việc tiếp nhận, tạo việc làm và xóa bỏ kỳ thị đối với phụ nữ hoàn lương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận tội phạm học về tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện, đặc điểm nhân thân người phạm tội nữ và cơ chế tâm lý - xã hội dẫn đến hành vi phạm tội của phụ nữ trong điều kiện kinh tế thị trường tại Việt Nam.
- Làm rõ mối quan hệ giữa đặc điểm giới tính, vai trò xã hội của nữ giới với tính chất ít bạo lực, thiên về vụ lợi và tỷ lệ ẩn cao ở các tội danh phi bạo lực.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng được bức tranh thực chứng toàn diện về tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện trong 10 năm (2003 - 2012) thông qua việc khai thác số liệu xét xử sơ thẩm toàn quốc (65.704 bị cáo nữ) và số liệu khởi tố (73.759 bị can nữ).
- Lần đầu tiên công bố kết quả phân tích định lượng chuyên sâu từ 434 bản án hình sự sơ thẩm tại 19 tỉnh, thành phố và kết quả xử lý SPSS từ 368 phiếu khảo sát phạm nhân nữ tại hai trại giam Ngọc Lý và Cái Tàu.
- Xác định chính xác các chỉ số tội phạm học quan trọng: chỉ số người phạm tội nữ trung bình (15 người/100.000 dân nữ), tỷ lệ tội phạm ẩn (dưới 48,8%), cơ cấu 15 tội danh phổ biến nhất và cơ cấu địa bàn trọng điểm.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp phòng ngừa toàn diện, có tính khả thi, gắn liền với các chức năng quản lý nhà nước, công tác tư pháp và hoạt động của các tổ chức đoàn thể xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực chứng của luận án giới hạn trong mốc thời gian 2003 - 2012. Nguồn dữ liệu bản án phân tích sâu dừng lại ở mẫu ngẫu nhiên 434 bản án giai đoạn 2003 - 2008 và mẫu khảo sát phạm nhân nữ tập trung tại 2 trại giam (Ngọc Lý ở miền Bắc và Cái Tàu ở miền Nam). Thống kê ngành tư pháp thời kỳ này còn thiếu các biến số nhân khẩu học chi tiết được số hóa đồng bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu cập nhật diễn biến tình hình tội phạm do nữ giới thực hiện trong các giai đoạn tiếp theo dưới tác động của công nghệ số và không gian mạng.
- Nghiên cứu dọc (longitudinal study) về tỷ lệ tái phạm và các rào cản tái hòa nhập cộng đồng chuyên biệt của phụ nữ sau khi chấp hành xong án phạt tù.
- Nghiên cứu liên ngành sâu hơn về tâm lý học thần kinh và giới tính tác động đến hành vi phạm tội bạo lực của phụ nữ tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tội phạm học, Luật Hình sự, Xã hội học tội phạm và Giới tính học. Chương 1 và Phụ lục cung cấp nguồn dữ liệu thống kê đối sánh chi tiết phục vụ việc giảng dạy và nghiên cứu thực nghiệm.
- Đối với các cơ quan tư pháp và thực thi pháp luật: Cung cấp cơ sở khoa học cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an trong việc đánh giá thực trạng, hoạch định chính sách hình sự, phân bổ nguồn lực điều tra, xét xử và cải tiến công tác giam giữ, cải tạo nữ phạm nhân.
- Đối với các cơ quan hoạch định chính sách xã hội: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cơ quan dân cử trong việc lồng ghép vấn đề giới vào các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội, dạy nghề, hỗ trợ phụ nữ nghèo và phòng ngừa bạo lực gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ bị cáo nữ trong tổng số bị cáo bị xét xử sơ thẩm ở Việt Nam giai đoạn 2003 - 2012 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2003 - 2012, Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm 65.704 bị cáo nữ trên tổng số 906.704 bị cáo, chiếm tỷ lệ 7,3% (trong khi bị cáo nam chiếm 92,7%). Tương quan số bị cáo nữ so với bị cáo nam là 7,8% (cứ 100 người phạm tội bị xét xử thì có khoảng 7-8 người là nữ).
2. Ba nhóm tội danh nào do nữ giới thực hiện có số lượng bị cáo cao nhất?
Ba nhóm tội chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 86% tổng số bị cáo nữ) gồm:
- Nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng: 25.241 bị cáo (38,42%).
- Nhóm tội phạm về ma túy: 16.023 bị cáo (24,37%).
- Nhóm tội xâm phạm sở hữu: 15.450 bị cáo (23,51%).
3. Tỷ lệ tội phạm ẩn do nữ giới thực hiện được luận án xác định như thế nào?
Luận án xác định tổng tỷ lệ tội phạm ẩn của nữ giới là dưới 48,8% (thấp hơn tỷ lệ ẩn chung của toàn xã hội là 66,19%). Trong đó, khảo sát 368 nữ phạm nhân cho thấy tỷ lệ ẩn tự nhiên là 41,3%; tỷ lệ ẩn nhân tạo ước tính dưới 6,5%; và sai số thống kê chỉ xảy ra đối với số lượng hành vi phạm tội chứ không làm sai lệch số lượng người phạm tội.
4. Tác giả đã sử dụng những nguồn dữ liệu thực chứng và phần mềm nào để xử lý số liệu?
Tác giả sử dụng số liệu thống kê xét xử 10 năm của TANDTC, số liệu khởi tố của VKSNDTC, số liệu dân số Tổng cục Thống kê, số liệu UNODC năm 2010; kết hợp khảo sát 434 bản án hình sự sơ thẩm tại 19 tỉnh thành và điều tra bảng hỏi 368 nữ phạm nhân tại Trại giam Ngọc Lý và Trại giam Cái Tàu. Dữ liệu bảng hỏi được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS.
5. Địa phương nào có số lượng người phạm tội là nữ tập trung cao nhất giai đoạn 2003 - 2012?
Theo số liệu 73.759 bị can nữ của VKSNDTC, hai địa phương có tỷ lệ cao nhất là TP. Hồ Chí Minh (10.019 người, chiếm 13,58%) và Hà Nội (7.829 người, chiếm 10,62%), tiếp sau là Tây Ninh (4,19%), Đồng Nai (3,39%) và Nghệ An (2,74%).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Phòng ngừa tội phạm do nữ giới thực hiện ở Việt Nam" của tác giả Lý Văn Quyền là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về tình hình tội phạm nữ giới tại Việt Nam giai đoạn 2003 - 2012 dưới góc độ tội phạm học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích thứ cấp số liệu tư pháp quốc gia với điều tra xã hội học thực nghiệm tại các trại giam và phân tích 434 bản án, tác giả đã làm rõ thực trạng, cơ cấu, diễn biến cũng như tỷ lệ tội phạm ẩn của nữ giới. Công trình đã luận giải sâu sắc các nguyên nhân kinh tế, xã hội, văn hóa, quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp, từ đó xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp phòng ngừa đồng bộ, có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác lập pháp, tư pháp và bảo đảm trật tự an toàn xã hội.