Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phòng chống gian lận thuế của các nhà thầu nước ngoài tại Cục Thuế các tỉnh, thành phố. Chương 2: Thực trạng phòng chống gian lận thuế của các nhà thầu nước ngoài tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường phòng chống gian lận thuế của các nhà thầu nước ngoài tại Cục Thuế tỉnh Hải Dương đến năm 2020. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ CỦA CÁC NHÀ THẦU NƢỚC NGOÀI TẠI CỤC THUẾ CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ 1.
Các loại thuế đánh vào nhà thầu nƣớc ngoài và các hành vi gian lận thuế 1. Các loại thuế đánh vào Nhà thầu nước ngoài Đúng như tên gọi của nó, thuế nhà thầu nước ngoài là loại thuế đánh vào hoạt động kinh doanh của các nhà thầu nước ngoài. NTNN theo như quy định tại Thông tư số: 103/2014/TT- BTC bao gồm: - Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa Nhà thầu nước ngoài với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu. - Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hoá tại Việt Nam theo hình thức xuất nhập khẩu tại chỗ và có phát sinh thu nhập tại Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng ký giữa tổ chức, cá nhân nước ngoài với các doanh nghiệp tại Việt Nam (trừ trường hợp gia công và xuất trả hàng hóa cho tổ chức, cá nhân nước ngoài) hoặc thực hiện phân phối hàng hoá tại Việt Nam hoặc cung cấp hàng hoá theo điều kiện giao hàng của các điều khoản thương mại quốc tế - Incoterms mà người bán chịu rủi ro liên quan đến hàng hóa vào đến lãnh thổ Việt Nam.
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh phân phối hàng hoá, cung cấp dịch vụ tại Việt Nam trong đó tổ chức, cá nhân nước ngoài vẫn là chủ sở hữu đối với hàng hóa giao cho tổ chức Việt Nam 8 hoặc chịu trách nhiệm về chi phí phân phối, quảng cáo, tiếp thị, chất lượng dịch vụ, chất lượng hàng hóa giao cho tổ chức Việt Nam hoặc ấn định giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ; bao gồm cả trường hợp uỷ quyền hoặc thuê một số tổ chức Việt Nam thực hiện một phần dịch vụ phân phối, dịch vụ khác liên quan đến việc bán hàng hoá tại Việt Nam. - Tổ chức, cá nhân nước ngoài thông qua tổ chức, cá nhân Việt Nam để thực hiện việc đàm phán, ký kết các hợp đồng đứng tên tổ chức, cá nhân nước ngoài. - Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, phân phối tại thị trường Việt Nam, mua hàng hoá để xuất khẩu, bán hàng hoá cho thương nhân Việt Nam theo pháp luật về thương mại. Khác so với các hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp từ nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Foreign Indirect Investment (FII) là hình thức đầu tư vốn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác mà nhà đầu tư không trực tiếp điều hành cơ sở sản xuất kinh doanh, thường là qua thị trường tài chính như thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán. Nhà thầu nước ngoài thực hiện các hoạt động kinh doanh theo các hợp đồng đã ký với bên ký hợp đồng của nước sở tại.
Sau khi kết thúc hợp đồng, hoạt động của nhà thầu nước ngoài cũng chấm dứt. Trong các quy định về thuế của các nước, thuế NTNN thường được gọi là Foreign Contractor Tax (FCT) hay Foreign Contractor Withholding Tax (FCWT) tức là thuế phát sinh do các hợp đồng từ nước ngoài. Nó còn được gọi là thuế khấu trừ tại nguồn (withholding tax), do cách thu chủ yếu là được bên ký hợp đồng khấu trừ tiền thuế phải nộp của nhà thầu nước ngoài trước khi trả tiền cho nhà thầu đó. Từ điển Oxford Dictionaries đã định nghĩa: “Thuế NTNN là loại thuế được khấu trừ tại nguồn, do các quốc gia đánh trên tiền lãi vay hoặc cổ tức của người cư trú bên ngoài nước đó”.
Thường không có một định nghĩa riêng về thuế nhà thầu 9 nước ngoài. Các điều khoản về thuế đối với nhà thầu nước ngoài thường được quy định trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuộc phần thuế khấu trừ tại nguồn. Chẳng hạn, Luật thuế Malaysia định nghĩa thuế NTNN như sau: “Thuế NTNN là một khoản tiền được bên chi trả khấu trừ lại đối với thu nhập của người được trả tiền không cư trú và nộp cho Cục thu nội địa Malaysia. Bên trả tiền là cá nhân/tổ chức hoạt động kinh doanh tại Malaysia.
Bên trả tiền phải giữ lại thuế NTNN đối với các khoản chi trả cho dịch vụ, tư vấn kỹ thuật, tiền thuê hoặc các khoản chi trả khác thực hiện dưới bất kỳ hình thức thỏa thuận nào đối với việc sử dụng bất kỳ động sản nào trả cho người nhận tiền không cư trú. Người nhận tiền là cá nhân/tổ chức không cư trú tại Malaysia nhận các khoản chi trả trên”. Theo Luật quản lý thuế của Australia năm 2004 (Taxation Administration Amendment Regulations 2004) thì “thuế nhà thầu là loại thuế đánh vào các khoản chi trả cho các tổ chức nước ngoài thường trú tại nước này do tiến hành các hợp đồng thầu xây dựng”. Như vậy, như tên gọi của mình, có thể thấy thuế nhà thầu nước ngoài là loại thuế thu theo đối tượng, mà ở đây chính là các nhà thầu nước ngoài.
Thuế NTNN là loại thuế đánh vào đối tượng là nhà thầu nước ngoài. Nó bao gồm nhiều loại thuế khác nhau: thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN tương tự như đối với các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, thuế NTNN có các đặc điểm chính sau: - Về lĩnh vực thu: Thuế NTNN chỉ xuất hiện chủ yếu ở một số loại hình hoạt động sau: Đầu tư dự án mới hoặc mở rộng đầu tư phải nhập khẩu máy móc, thiết bị loại trong nước chưa sản xuất, chế tạo được, kèm theo dịch vụ đào tạo, lắp đặt, chạy thử, bảo hành, … Chuyển giao công nghệ, mua bản quyền công nghệ từ nước ngoài (ví dụ: qui định hợp đồng chuyển giao công nghệ dây chuyền sản xuất sản phẩm: trả phí cho bên chuyển giao trên giá bán tịnh của sản phẩm; hoặc tiền chuyển giao công nghệ dạng nhãn hiệu thương mại tính phần trăm trên doanh thu thuần…); trả tiền bản quyền xuất bản phẩm. Vay ngân hàng nước ngoài (lãi tiền vay) Quảng cáo (tiền bản quyền) hoặc dịch vụ Cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện công nghiệp, thiết bị khoa học, thiết bị thương mại, phương tiện vận tải và các động sản khác dưới mọi 10 hình thức, kể cả các phần mềm đi kèm như phần mềm điều khiển, thiết bị phụ trợ Tư vấn, thiết kế (kể cả thiết kế qua Internet) Dịch vụ thuê/mua dịch vụ.
- Về thời gian hoạt động của nhà thầu nước ngoài: Đặc điểm lớn nhất của NTNN là hoạt động kinh doanh chỉ trong một thời gian ngắn, theo các hợp đồng ký với các doanh nghiệp hoặc cá nhân của nước sở tại. Các hợp đồng này thường là ngắn hạn, phần lớn dưới một năm, có hợp đồng chỉ trong thời gian rất ngắn. Tuy nhiên cũng có những hợp đồng kéo dài vài năm, đặc biệt là các hợp đồng trong lĩnh vực dầu khí: thuê giàn khoan, tàu chứa dầu v.v…; trong lĩnh vực xây dựng: xây nhà máy điện, xi măng, nhà máy đường, nhà máy chế biến thực phẩm v.v…; các hợp đồng vay để thực hiện các dự án đầu tư mua sắm máy móc thiết bị vv…, các hợp đồng về tiền bản quyền, thương hiệu. - Về sự hiện diện của NTNN tại nước ký hợp đồng: Khác với các công ty nước ngoài hoạt động đầu tư trực tiếp (FDI), các NTNN có thể có hiện diện hoặc không có hiện diện tại nước ký kết hợp đồng.
Đối với các hợp đồng thuộc dạng sau có thể không có sự hiện diện của NTNN ở nước ký kết hợp đồng: Hợp đồng vay; Hợp đồng bản quyền, chuyển giao công nghệ; Hợp đồng tư vấn v.v… Tuy không hiện diện tại nước ký kết hợp đồng, NTNN vẫn có thể phải nộp thuế tại nước ký hợp đồng, và thuế NTNN trong trường hợp này thường là thuế TNDN. - Về cách thu: Do đặc điểm hoạt động của các NTNN chủ yếu là ngắn hạn, có thể không có hiện diện tại nước ký kết hợp đồng đã dẫn tới cách thu thuế NTNN cũng khác biệt. Thuế NTNN được thu chủ yếu tại bên ký hợp đồng nước sở tại, đó cũng là đặc điểm dẫn tới tên gọi của thuế NTNN là thuế khấu trừ tại nguồn, trong đó nguồn được hiểu là nguồn thu nhập, tức là thu tại đơn vị chi trả thu nhập. Cách thu này đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, hiệu quả, tiết kiệm chi phí thu thuế.
Tuy nhiên, cách thu này cũng có nhược điểm là ràng buộc nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của đối tượng nộp thuế - các NTNN - sang bên ký hợp đồng nước sở tại. Các chế tài về thuế: phạt vi phạm kê khai, khai sai, khai thiếu, nộp chậm tờ khai v.v… chuyển qua bên ký hợp đồng. NTNN khi ký hợp đồng có thể chỉ cần biết số tiền mình nhận được khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ, còn các vấn đề về nghĩa vụ thuế do bên ký hợp đồng nước sở tại chịu trách nhiệm. 11 - Về phương pháp tính thuế: Do đặc điểm của NTNN chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, không thực hiện chế độ sổ sách kế toán như các doanh nghiệp trong nước nên việc kê khai, tính thuế không áp dụng như đối với các doanh nghiệp trong nước.
Để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tiến hành thu, việc tính thuế đối với các hoạt động kinh doanh của NTNN thường được gộp lại theo từng nhóm có hoạt động kinh doanh tương tự. Cũng do không thực hiện chế độ sổ sách kế toán, việc xác định thuế nhà thầu thường theo tỷ lệ % trên doanh thu NTNN nhận được.