mở đầu với dòng chữ: Tdi Lê Văn Ngữ, tên bộ là Trí, ở làng Vạn Lộc tổng Trà Lũ phủ Xuân Trường làm thư này kính tiến lên quan Bắc kỳ Thống sứ đại thân đại nhân các hạ xin. chứng tỏ tác giả bức thư này là Lê Văn Ngữ; thứ hai, nó đặt ra những yêu cầu mà bức thư của Thống sứ Bắc kỳ gửi Lê Văn Ngữ (chép ở đầu sách Chu Dịch cứu nguyên) đã nhắc đến và giải đáp. Từ bằng chứng về tên người viết cùng người nhận và từ tính chất liền mạch trong hỏi đáp như vậy chúng tôi khang định rằng bức thư chép ở đầu sách Chu Dịch cứu nguyên chính là hồi âm của bức thư mà người viết là Lê Văn Ngữ đã chép lại nó trong tác phâm của mình là Trung dung thuyết ước va Đại học tích nghĩa. Ngoài ra ở sách Luận ngữ tiết yếu cũng chép 01 bức thư gửi Tòa Bác cổ (tức viện Viễn Đông bác cô hồi đó).
Bức thư này cũng không đề ngày tháng, nhưng căn cứ vào nội dung thư chúng tôi biết rằng nó ra đời sau 03 bức thư kế trên và sau cả bức thư mà Thống Sứ Bắc kỳ gửi tác giả được chép ở đầu sách Chu Dịch cứu nguyén'; và những tập sách đang có mặt ở Thư viện của Viện nghiên cứu Hán Nôm có lẽ chính là số sách do chính tác giả Lê Văn Ngữ đã gửi kèm theo bức thư cho Tòa Bác cô được chép ở sách Luận ngữ tiết yếu. Như vậy là hầu hết các tác phẩm của Lê Văn Ngữ đều có chép những bức thư của ông gửi đi nhằm thuyết phục chính quyền đương thời chấn hưng ' Xin xem nội dung các bức thư ở phần phụ lục II. 16 Mai Thu Quỳnh. Chu Dịch cứu nguyên — Phong cách kinh hoc và tư tưởng của Lê Văn Ngữ Nho học.
Trong đó bức thư nọ liên quan đến bức thư kia và tác phẩm này lại có đề cập đến tác phâm khác. Vả lại, những bức thư được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm với nét chữ rất giống phần chính văn của các sách. Đặc điểm này khiến chúng tôi thêm một lần nữa khăng định chắc chắn rằng chúng cùng do một người viết. Vậy thì bức thư chữ Pháp và bản dịch của nó sang chữ quốc ngữ ở đầu sách Chu Dịch cứu nguyên cũng do người viết Chu Dịch cứu nguyên và 6 tác phâm cùng 4 bức thư của Lê Văn Ngữ viết lại.
Trong bức thư gửi tòa Bác cô tác giả nói: đã làm được 05 bộ sách gồm 07 quyên và ông đã gửi 05 bộ sách ấy cho quan Phụ chính họ Tôn That, cho hội Quảng học ở Thượng Hải, cho Thống sứ Bắc kỳ. Mà 05 bộ sách được kê đến trong thư gửi quan Phụ chính họ Tôn Thất cũng là 05 bộ đã được nhắc đến ở mục Phu lục tục thích Văn Vương Thoán văn tự của Chu Dịch cứu nguyên (gồm Chu Dịch cứu nguyên, Trung dung thuyết ước, Y học toản yếu, Luận ngữ tiết yếu, Đại học tích nghĩa). Còn hai sách khác là Lễ kinh chủ nhân và Phụ tra tiểu thuyết thì không thấy đả động gì. Tại sao thế? Phụ tra tiểu thuyết là tập hợp các bài viết về chuyên Lê Văn Ngữ phụ tá Từ Đạm' đi sứ sang Pháp, lịch trình chuyến đi, những điều tác giả thấy, những điều tác giả muốn luận bàn, thư của tác giả thay mặt Từ Đạm viết gửi triều đình,.
Trong sách này tác giả đã ké rằng minh cùng sứ đoàn đi Pháp từ ngày 12 tháng 4 năm Thành Thái 12 (1900)” đến ngày 07 tháng 8 năm Thanh Thái 12 (1900) thì về đến Hai Phòng. Cuối sách này còn chép bài Phu lực tai hành vấn đáp (Mt $% Zé 4¥ FE 4) viết năm Thành Thái 17 (1905). Từ đó suy ra sách này ra đời trong khoảng từ 1900 đến 1905, tức là được viết trước các cuén Chu Dịch cứu nguyên, Trung dung thuyết ước, Y học toản yếu, Luận ngữ tiét yeu, 1 x z Tu Dam: hiệu Cúc Nhân, người làng Khê Hoi, huyện Thường Tin, nay thuộc Hà Tây. Năm Thành Thai At Mùi (1895)được 34 tuôi, Từ Đạm đậu tiên sĩ, sau làm quan đên Tông độc.
Khi làm quan đã có lần đi phái bộ sang Pháp. Tác phâm có: Lãm Tây kỉ lược (sử), A. ? Nếu tính năm Thành Thái thứ nhất là 1889 như các bảng tra niên hiệu các triều đại đang lưu hành thì năm Thành Thái 12 phải là năm 1901, nhưng trong văn bản tác giả lại chú thích là Tây lịch năm 1900. Ở đây chúng tôi ghi theo tác giả.
17 Mai Thu Quỳnh. Chu Dịch cứu nguyên — Phong cách kinh hoc và tư tưởng của Lê Văn Ngữ Dai học tích nghĩa (Điều này cũng có nghĩa là các tác phẩm chú giải Nho điển và Đông y kia được viết sau khi tác giả đã đi Pháp, đã tận mắt nhìn ngắm và tiếp xúc với đời sống văn minh Tây phương đương thời). Có lẽ bởi tính chất là cuốn nhật kí của một chuyến đi nên tác phâm Phy tra tiểu thuyết đã không được ké đến trong danh mục các tác phâm được tác giả viết va gửi đi nham khang định tên tuổi của mình và tran hưng Nho học. Ở đây xin chỉnh lý một chút về những ghi chép trong phụ lục cuối sách Phy tra tiểu thuyết.
Trong Phụ lục tại hành vấn đáp tác giả Lê Văn Ngữ viết: † HS — FIL AE HE Z4 4K 1 1a PS ý (Bất tài ư nhất thiên cửu bách niên tang tong Thái tỉnh Đốc học Từ tôn quan — Kẻ bắt tài tôi từng theo quan Đốc học Thái Nguyên [đi sang Pháp] vào năm 1900). Nhưng theo ghi chép của chính Từ Đạm trong cuốn Lam Tây kỉ lược (##. FG 40 HS) mục Lam Tây kỉ trình (#8 PG 40 FE) (nằm ở cudi sách) thì khi đó ông giữ chức Tri phủ Xuân Trường (WK Je Zs Wh #: R JÑ #I JÑ. — Dam thời phụng chức Xuân Trường phủ Tri phủ: Dam tôi lúc đó vâng nhận chức Tri phủ Xuân Trường).
Chúng ta nên theo Từ Đạm đề đính chính lại thông tin rằng: khi Lê Văn Ngữ phụ tá Từ Đạm đi sứ sang Pháp thì Từ Đạm đang giữ chức Tri phủ Xuân Trương chứ không phải là giữ chức Đốc học tỉnh Thái Nguyên như Lê Văn Ngữ đã kế ở sách Phụ tra tiểu thuyết mục Phu lục tại hành vấn đáp. Còn về sách Lé kinh chủ nhân, giở lại những trang đầu của bộ Lễ kinh chu nhân chúng tôi thay có một bài tựa dài 3 trang mang tên “#4 4% +3: {ˆ FR” (Lễ kinh chủ nhân tự - bài tựa sách Lễ kinh chủ nhân) được viết vào trung tuần tháng 11 năm Bao Dai thứ 3 Mậu Thin (1928) bởi Cuồng S1 Lê Ngữ tên tự là Ứng Hòa người ở Vạn Lộc, Xuân Trường, Nam Định nước Đại Nam. Sau khi đọc bài tựa này chúng tôi thấy cần phải nói hai điều: thứ nhất là tên đầy đủ của cuốn sách này là Lễ kinh chủ nhân (3ð## 3:{ˆ) chữ không phải là Lễ kinh (38##) như sách Tén ty tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của tác giả Trinh Khắc 18 Mai Thu Quỳnh. Chu Dịch cứu nguyên — Phong cách kinh hoc và tư tưởng của Lê Văn Ngữ Mạnh hoặc danh mục sách phục vụ độc giả của viện Nghiên cứu Hán Nôm đã viết; thứ hai là sách được làm gần một năm sau ngày ông Lê Văn Ngữ gửi thư và sách cho quan Phụ chính họ Tôn That, Thống sứ Bac kỳ cũng như sau khi ông Lê Văn Ngữ gửi thư và sách cho Tòa Bác cô.
Bởi được hoàn thành sau khi tác giả Lê Văn Ngữ viết thư gửi Tòa Bác cô nên đương nhiên là tác phẩm này không được nhắc đến trong bức thư đó. Nhưng bằng một cơ duyên nào đó, Lễ kinh chủ nhân cùng Phụ tra tiểu thuyết của tác giả Lê Văn Ngữ cũng đã có mặt ở Thư viện viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đến đây chúng ta có thể hình dung ra quá trình Lê Văn Ngữ làm sách như sau: 40 tuổi (1900) Lê Văn Ngữ đi sứ Pháp rồi về viết cuén Phụ tra tiểu thuyết, 17 năm sau ( 1917) ông viết Chu Dịch cứu nguyên, sau đó mới viết Luận ngữ tiết yếu, Đại học tích nghĩa, Trung dung thuyết ước và Y học toản yếu, bốn sách này được làm xong trước tháng 12 năm 1927, trong vòng một năm sau đó (từ tháng 12 năm 1927 đến tháng 11 năm 1928) ông Lê Văn Ngữ gửi thư kèm các sách này tới triều đình Huế, Thượng Hải quảng học hội, Thống sứ Bắc kì. Trong số đó, thư gửi Thống sứ Bắc kì đã được trả lời, nhưng chưa hài lòng với câu trả lời của Thống sứ Bắc kỳ, tác giả lại gửi thư và các sách đó cho Tòa Bác cổ.
Cùng trong năm đó (1928) ông viết thêm sách Lé kinh chủ nhân. Như vậy, văn ban chúng tôi đang khảo cứu đã được khang định là tác pham Chu Dịch cứu nguyên của tác giả Lê Văn Ngữ hay Lê Ngữ - người tự gọi mình là Cuỗồng sĩ, lay tên tự là Ứng Hòa, ở làng Vạn Lộc tông Trà Li: phủ Xuân Trường Nam Định. Ngoài tác phẩm Chu Dịch cứu nguyên mà chúng tôi đang khảo cứu, Lê Văn Ngữ còn viết 06 cuốn sách đã nói trên. Nhưng Lê Văn Ngữ là ai? 2.
TÁC GIA LÊ VĂN NGỮ (1860 - 1934): 19 Mai Thu Quỳnh. Chu Dịch cứu nguyên — Phong cách kinh hoc và tư tưởng của Lê Văn Ngữ Ở sách Tên tu tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của tác giả Trịnh Khắc Mạnh thấy ghi nguyên văn như sau: 120. Cuồng Sĩ (ZE +): Tên hiệu của Lê Văn Ngữ, ông tự là Ứng Hòa, người xã Vạn Lộc huyện Giao Thuy, tinh Nam Định. Về thân thé va sự nghiệp của Lê Văn Ngữ hiện chưa rõ, được biết ông sống vào khoảng cuối thé ki XIX và dau thé ki XX.
Tac pham: Chu Dịch cứu nguyên. Dai học tích nghĩa. Luận ngữ tiết yếu. Phụ tra tiêu thuyết.
Trung dung thuyết ước. Y học toản yếu. Ung Hòa (EA): Tên tự cua Lê Văn Ngữ (? - ?), ông hiệu la Cuong Si, người xã Van Lộc huyện Giao Thuy tỉnh Nam Định. Xem Cuong Si, số 120.
Ung Hoa: Tên tự cua Lê Ngữ (? - ?) quê ở đâu chưa rõ. Về thân thé và sự nghiệp của Lê Ngữ hiện chưa rõ. Tác phẩm: biên tập sách Lễ kinh (78 ##) Như vậy, cuốn sách trên cho răng: Thứ nhất: Cuồng Sĩ là tên hiệu và Ung Hòa là tên tự của Lê Văn Ngữ người xã Vạn Lộc huyện Giao Thủy, Nam Định, thân thế và sự nghiệp của ông này chưa rõ, chỉ biết ông có 07 tác phâm là Chu Dịch cứu nguyên, Đại học tích 20 Mai Thu Quỳnh.