Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu đánh giá các mô hình rừng phòng hộ vùng đồi núi Hiệu quả phòng hộ của đai rừng cũng rất được chú ý. Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định vai trò to lớn của các đai rừng để phòng hộ và cải thiện điều kiện canh tác.
Theo Zheng Haishui (1996) [31], một đai rừng có chiều rộng 100 m mỗi năm có khả năng cố định được 124 - 223 m3 cát. Ở thành phố Zhanjiang 20.000 ha các đụn cát di động và bán di động đã được cố định bởi các đai rừng và kết quả hàng ngàn ha đất nông nghiệp được phục hồi [31]. Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa của Nhật Bản, nó được trồng bằng cây hom từ thế kỷ XV. Vào năm 1987, Nhật Bản đã sản xuất được 49 triệu cây hom loài cây này phục vụ trồng rừng.
Bằng phương pháp vòng chọn lọc liên tục lặp lại từ khâu khảo nghiệm, chọn lọc, kết quả gây trồng và tiếp tục chọn lọc, cho tới nay Nhật Bản đã chọn lọc được 32 dòng vô tính khác nhau phù hợp với yêu cầu cơ bản là: Khả năng ra rễ cao của hom, phạm vi gây trồng rộng, khả năng thích nghi cao,. Ở Huay Sompoi, Thái Lan [25] đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là: Xuất xứ Huay Sompoi và Xuất xứ Phayao. Tại Kasma Forest Technology Centrer (Nhật Bản) đã thiết lập hàng loạt các mô hình trồng rừng nhiều tầng tán sử dụng nhiều loài cây bản địa ở nhiều cấp tuổi, trồng ở nhiều mật độ khác nhau, đặc biệt ở vùng Tsucuba có độ cao dưới 876 m so với mực nước biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japannese ceder) để tạo ra những lâm phần bền vững có giá trị và họ cảm thấy có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng hỗn giao với nhau và ảnh hưởng của môi trường đến các loài cây [22]. Nghiên cứu các giải pháp quản lý và phát triển rừng nói chung và rừng phòng hộ nói riêng Từ Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu 1992 tại Rio deJaneiro (Brazil) thì rừng cần được quản lý tốt để cung cấp ổn định lâu dài cho con người các lợi ích kinh tế, các lợi ích môi trường và các lợi ích xã hội.
Vấn đề mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự quan tâm đặc biệt là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững việc cung cấp tối ưu 3 mặt kinh tế, môi trường, xã hội mà trong đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người là không thể thay thế được. Ngoài Mỹ, Canada và một số nước khác có những nghiên cứu về phát triển lâm nghiệp bền vững ở mức độ khác nhau. Bộ trưởng môi trường Indonexia Salim (1991) đã nêu lên những suy nghĩ về phát triển lâm nghiệp bền vững ở Indonexia với chức năng toàn cầu của rừng nhiệt đới. Trong bài viết của Hagglund (1990) Thụy Điển đã ghi lại, lâm nghiệp Canada cho rằng thu nhập lâu dài không phải là chính sách lâm nghiệp tổng hợp, sự phát triển tương lai của sách lược lâm nghiệp lâu bền phải có nghĩa là tăng thu nhập chuyển sang phát triển bền vững, khái niệm cái sau bao gồm cái trước.
Squire (1990) cũng xuất phát từ thực tiễn lâm nghiệp bền vững thông qua nghiên cứu lâm nghiệp, chính sách và chăm sóc rừng đã đề ra một khung cải tiến kinh doanh rừng tự nhiên. Tại đại hội Helsinki -1993, 38 nước ở Châu Âu đã xác định 6 tiêu chuẩn, 28 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững cho rừng Địa Trung Hải, rừng Ôn đới và rừng Bắc Âu. Tại đại hội Montreal, 12 nước thành viên đã đồng ý thiết lập 7 tiêu chuẩn và 67 chỉ tiêu để quản lý rừng Bắc Mỹ. Ở vùng khô hạn Châu Phi, 27 nước liên quan thống nhất 7 tiêu chuẩn, 47 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững tại cuộc họp chuyên gia UNEP/FAO tổ chức ở Narrobi Kenya năm 1995.
Tại cuộc họp chuyên gia FAO/CCAD, các chuyên gia từ 7 nước CCAD đã xác định 8 tiêu chuẩn và 52 chỉ tiêu ở cấp quốc gia, 4 tiêu chuẩn và 40 chỉ tiêu ở cấp vùng cho quản lý rừng bền vững để các nước xem xét. 5 Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao. Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995 - 2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnompenk 2001. Năm 2004, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) công bố ý định “nâng cao quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng và các hệ sinh thái quan trọng thông qua loại bỏ những hoạt động thiếu bền vững”.
Như vậy có thể thấy, các công trình nghiên cứu về rừng phòng hộ nói riêng được thực hiện khá toàn diện, từ việc nghiên cứu xác định loài đến việc xác định các biện pháp lâm sinh tác động. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu kết hợp giữa các giải pháp lâm sinh với các giải pháp kinh tế - xã hội để đạt được một hệ sinh thái bền vững. Các công trình nghiên cứu rừng phòng hộ ở Việt Nam Nghiên cứu về xói mòn đất là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng rừng phòng hộ. Ở nước ta vấn đề này được nhiều tác giả quan tâm.
Theo Nguyễn Quang Mỹ (1984) thì vấn đề xói mòn đất đã bắt đầu được quan tâm ở nước ta từ trước năm 1954, bước đầu mới chỉ là những biện pháp chống xói mòn sơ khai như làm ruộng bậc thang, xây kè, cống. Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và cho ra đời nhiều công trình khoa học có giá trị về xói mòn đất như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Cao Văn Vinh về ảnh hưởng của độ dốc tới xói mòn đất, góp phần đề ra các chỉ tiêu và quy chế bảo vệ, sử dụng và khai thác đất dốc. Tôn Gia Huyên (1967), Chu Đình Hoàng, Nguyễn Xuân Quát, Bùi Ngạnh (1963) đã tập trung nghiên cứu ở vùng Tây Bắc, Sơn La, Phú Thọ, Lào Cai về biện pháp và công trình trồng cây phân xanh che phủ đất. Nghiên cứu của Chu Đình Hoàng và Đào Khương về những nét đặc trưng chủ yếu của xói mòn vùng khí hậu nhiệt đới 6 Việt Nam.
Nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại đã được áp dụng, xây dựng hàng loạt các khu quan trắc xói mòn định vị bằng xi măng, gạch, gỗ, kim loại như trạm nghiên cứu xói mòn An Châu ở Hữu Lũng, Lạng Sơn, hay trạm Ekmat ở Buôn Mê Thuột, trạm nghiên cứu xói mòn đất Tây Nguyên. Việc nghiên cứu và xác định cấu trúc hợp lý của rừng phòng hộ làm cơ sở cho việc xây dựng các khu rừng phòng hộ có chất lượng cao cũng được một số tác giả quan tâm. Năm 1996, Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải đã công bố công trình “Kết quả bước đầu nghiên cứu tác dụng phòng hộ đầu nguồn nước của một số thảm thực vật chính và các nguyên tắc xây dựng rừng phòng hộ nguồn nước”. Trong nghiên cứu đó, các tác giả đã đánh giá được năng lực phòng hộ của một số dạng cấu trúc thảm thực vật rừng về mặt chống xói mòn và điều tiết nguồn nước.
Trên cơ sở đó đề xuất những mô hình rừng phòng hộ đầu nguồn có cấu trúc hợp lý. Một số tác giả lại tập trung nghiên cứu vai trò điều tiết nguồn nước, xói mòn của rừng, ảnh hưởng của thảm thực vật tới dòng chảy của các con sông như công trình của Nguyễn Viết Phổ (1992), Vũ Văn Tuấn (1997, 1981),… những nghiên cứu này đã cho ta thấy vai trò điều tiết nước rất hữu hiệu của thảm thực vật rừng, đặc biệt là việc cung cấp nước cho các con sông, suối vào mùa khô, dòng chảy kiệt ở những vùng có rừng cao hơn những vùng không có rừng. Theo Nguyễn Anh Dũng (2006) thì ở nước ta hiện nay có hai giải pháp kỹ thuật chủ yếu để phục hồi và phát triển rừng, đó là trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung. Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã đặt ra từ rất sớm, vào khoảng những năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, vấn đề này được đề cập đến trong thuật ngữ “khoanh núi, nuôi rừng”.
Đến những năm 1990, thì mới định hình và phát triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”. Điều này được thể hiện trong hai quy phạm ngành là QPN 14 – 92 và QPN 21 – 98. Nghiên cứu về phân loại và chức năng rừng phòng hộ 1. Phân loại rừng phòng hộ Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2017, Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng; được phân theo mức độ xung yếu bao gồm.
a) Rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư; rừng phòng hộ biên giới; b) Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển. Phát triển rừng phòng hộ - Tiêu chí rừng phòng hộ được quy định tại Khoản 1,2,3, Điều 7, Nghị định số 156/2018/QĐ-TTg. Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới, phải được xây dựng thành rừng tập trung, liền vùng, duy trì và hình thành cấu trúc rừng bảo đảm chức năng phòng hộ. Đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới, rừng bảo vệ nguồn nước của cộng đồng dân cư, thực hiện các hoạt động sau đây: a) Bảo vệ, kết hợp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên với làm giàu rừng; b) Trồng rừng ở nơi đất trống, không có khả năng tái sinh tự nhiên thành rừng; trồng hỗn giao nhiều loài cây bản địa, loài cây đa tác dụng, cây lâm sản ngoài gỗ.