Nghiên cứu phát triển các mô hình sinh kế bền vững dựa vào canh tác nông nghiệp của người dân ở vùng đệm vườn quốc gia tà đùng

Nghiên cứu mô hình sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm Vườn quốc gia Tà Đùng dựa trên canh tác nông nghiệp. Giải pháp phát triển kinh tế địa phương.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

171
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về mô hình canh tác liên quan đến vùng đệm

1.2. Đặc điểm vùng nghiên cứu

1.3. Các tồn tại và giả thuyết nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu của luận án

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất vùng đệm VQG Tà Đùng

3.2. Xu thế của thảm phủ trên khu vực VQG và các nguyên nhân liên quan

3.3. Đánh giá các nguồn lực sinh kế và các áp lực đến tài nguyên rừng và môi trường VQG Tà Đùng

3.3.1. Đánh giá nguồn lực sinh kế và tình hình canh tác nông nghiệp của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

3.3.2. Đánh giá tác động của sinh kế đến tài nguyên rừng và môi trường VQG Tà Đùng

3.4. Phân vùng sinh thái và đánh giá thích nghi đất đai phục vụ canh tác bền vững

3.4.1. Phân vùng sinh thái nông nghiệp

3.4.2. Đánh giá thích nghi đất đai

3.5. Phân tích SWOT

3.6. Các giải pháp để cải thiện sinh kế nhằm giảm tác động đến tài nguyên rừng và môi trường VQG Tà Đùng

3.6.1. Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp

3.6.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm triển khai các mô hình sản xuất tại vùng đệm kết hợp công tác bảo tồn VQG Tà Đùng

3.6.3. Một số giải pháp triển khai mô hình canh tác nông nghiệp tại VQG Tà Đùng

3.6.4. Đề xuất giải pháp bảo vệ, phục hồi, phát triển nông nghiệp trong vùng đệm VQG Tà Đùng có sự tham gia của cộng đồng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Danh mục công trình công bố của tác giả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Mô Hình Sinh Kế Bền Vững Tại Vùng Đệm Tà Đùng

Sinh kế bền vững đã trở thành một chủ đề quan trọng trên toàn cầu, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Về mặt lý thuyết, cách tiếp cận sinh kế bền vững dựa trên sự phát triển các tư tưởng về giảm nghèo và duy trì cuộc sống của người dân. Lấy con người làm trung tâm, nó tập trung vào việc giúp người dân tìm kiếm sinh kế dựa trên cơ hội và hỗ trợ họ tiếp cận các nguồn lực. Về mặt thực tiễn, cách tiếp cận này xuất phát từ các mục tiêu giảm nghèo và tăng thu nhập. Nghiên cứu về sinh kế bền vững vẫn mang tính thời sự, đặc biệt khi nhu cầu của người nghèo được ưu tiên trong các chính sách phát triển. Mô hình sinh kế bền vững đã trở thành một cách tiếp cận vững chắc, phù hợp thực tiễn ở nhiều khu vực. Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đảm bảo sinh kế bền vững là vấn đề trọng tâm. Các hoạt động sinh kế ngày càng đa dạng, mang lại các bản sắc và ý nghĩa khác nhau, song cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên.

1.1. Vườn Quốc Gia Tà Đùng Tiềm năng và thách thức sinh kế

Vườn Quốc Gia Tà Đùng có vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực Tây Nguyên. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức do tác động của con người, sự xâm canh, xâm cư, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép, và săn bắn động vật hoang dã. Các hoạt động sinh kế từ các cộng đồng dân cư địa phương, cùng với tác động của biến đổi khí hậu, làm cho các hệ sinh thái của vườn quốc gia suy giảm đa dạng sinh học ngày càng nghiêm trọng.

1.2. Canh Tác Nông Nghiệp Bền Vững Giải pháp cho sinh kế Tà Đùng

Trên cơ sở đánh giá ưu, nhược điểm của các mô hình canh tác nông nghiệp hiện hữu kết hợp với điều kiện tự nhiên và các tiêu chí bền vững, cần có những nghiên cứu sâu rộng để đề xuất các giải pháp canh tác nông nghiệp bền vững. Các giải pháp này cần hướng đến việc nâng cao nhận thức và đời sống của người dân, đồng thời đảm bảo bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.

II. Thực Trạng Thách Thức Phát Triển Sinh Kế Bền Vững Tà Đùng

Hiện tại, vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng đang đối diện với nhiều thách thức trong việc phát triển mô hình sinh kế bền vững. Các hoạt động canh tác nông nghiệp hiện tại chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao và gây áp lực lên tài nguyên thiên nhiên. Theo tài liệu, cây cà phê là cây trồng mang lại thu nhập chính, nhưng năng suất chỉ đạt dưới 2 tấn nhân/ha/năm, dẫn đến thu nhập thấp cho người dân và gia tăng các hoạt động sinh kế gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của Vườn Quốc gia. Cần có những giải pháp để tìm hiểu nguyên nhân năng suất thấp và bố trí lại các loại sử dụng đất (LUT) cho phù hợp, nhằm nâng cao đời sống người dân.

2.1. Áp lực lên tài nguyên rừng từ hoạt động canh tác nông nghiệp

Các hoạt động canh tác nông nghiệp không bền vững đang gây áp lực lớn lên tài nguyên rừng tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng. Việc mở rộng diện tích canh tác, sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu quá mức, khai thác gỗ và lâm sản trái phép đang làm suy thoái đất, ô nhiễm nguồn nước và mất đa dạng sinh học. Cần có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn để giảm thiểu tác động tiêu cực này.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp Tà Đùng

Biến đổi khí hậu đang gây ra những tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp tại Tà Đùng, bao gồm tăng nhiệt độ, hạn hán kéo dài và mưa lũ bất thường. Theo nghiên cứu, nhiệt độ tăng đã làm tăng lượng bốc thoát hơi nước và làm tăng tình trạng hạn nông nghiệp, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng. Cần có những giải pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu để đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập cho người dân.

III. Giải Pháp Canh Tác Nông Nghiệp Hữu Cơ Cho Sinh Kế Tà Đùng

Chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp hữu cơ là một giải pháp tiềm năng để phát triển mô hình sinh kế bền vững tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng. Nông nghiệp hữu cơ giúp cải thiện chất lượng đất, giảm thiểu sử dụng hóa chất độc hại và bảo vệ đa dạng sinh học. Hơn nữa, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có giá trị cao trên thị trường, mang lại thu nhập tốt hơn cho người dân. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi thời gian, kiến thức và kỹ năng, cũng như sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng.

3.1. Lợi ích kinh tế và môi trường của nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường. Về kinh tế, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có giá trị cao, giúp tăng thu nhập cho người dân. Về môi trường, nông nghiệp hữu cơ giúp cải thiện chất lượng đất, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước và bảo vệ đa dạng sinh học. Việc áp dụng các phương pháp nông nghiệp hữu cơ cũng góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

3.2. Hướng dẫn chuyển đổi sang mô hình canh tác nông nghiệp hữu cơ

Việc chuyển đổi sang mô hình canh tác nông nghiệp hữu cơ cần được thực hiện theo từng bước và có sự hướng dẫn của các chuyên gia. Đầu tiên, cần tiến hành đánh giá đất, lựa chọn cây trồng phù hợp và lập kế hoạch sản xuất. Tiếp theo, cần áp dụng các phương pháp canh tác hữu cơ, bao gồm sử dụng phân bón hữu cơ, kiểm soát sâu bệnh bằng phương pháp sinh học và luân canh cây trồng. Cuối cùng, cần đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ và tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định.

IV. Đa Dạng Hóa Cây Trồng Bí Quyết Sinh Kế Bền Vững Tà Đùng

Đa dạng hóa cây trồng là một yếu tố quan trọng để xây dựng mô hình sinh kế bền vững tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng. Việc trồng nhiều loại cây khác nhau giúp giảm thiểu rủi ro do sâu bệnh, thời tiết và biến động giá cả thị trường. Ngoài ra, đa dạng hóa cây trồng cũng giúp cải thiện chất lượng đất và bảo vệ đa dạng sinh học. Nghiên cứu đã xác định được 03 vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, gồm vùng chuyên canh trồng cà phê, vùng trồng cà phê có năng suất cao và vùng trồng cây gỗ lớn. Dựa trên kết quả đánh giá thích nghi đất đai, cần đề xuất các mô hình sinh kế bền vững (Cà phê, Macca và xen canh Cà phê và Macca) tương ứng với từng vùng sinh thái.

4.1. Lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên Tà Đùng

Việc lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của Tà Đùng là rất quan trọng. Cần xem xét các yếu tố như khí hậu, đất đai, nguồn nước và khả năng chống chịu sâu bệnh. Nghiên cứu đã đề xuất các mô hình sinh kế bền vững (Cà phê, Macca và xen canh Cà phê và Macca) tương ứng với từng vùng sinh thái. Ngoài ra, cần khuyến khích người dân trồng các loại cây bản địa có giá trị kinh tế và bảo tồn.

4.2. Mô hình xen canh cà phê và mắc ca Hiệu quả kinh tế và sinh thái

Mô hình xen canh cà phê và mắc ca là một lựa chọn tiềm năng cho vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng. Mô hình này giúp tận dụng tối đa diện tích đất, tăng thu nhập cho người dân và cải thiện chất lượng đất. Theo kết quả đánh giá thích nghi đất đai bền vững, khu vực này thích hợp trồng xen canh lấy cà phê làm cây trồng chính diện tích phù hợp trồng mô hình xen canh chiếm 6. Vùng 2, khu vực này gồm 02 xã Phi Liêng và Đạ K’Nàng, khu vực này có 627,01 ha thích hợp trồng chuyên canh cây cà phê (thuộc xã Đạ K’Nàng), có khoảng 2.015,25 ha thích hợp trồng xen canh cây cà phê và mắc ca. Vùng 3, khu vực này có 3.197,48 ha phù hợp trồng xen canh cà phê và mắc ca thuộc xã Phi Liêng.

V. Giải Pháp Hỗ Trợ Chính Sách Cho Sinh Kế Bền Vững Tà Đùng

Để phát triển mô hình sinh kế bền vững từ canh tác nông nghiệp tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng, cần có sự hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước và các tổ chức. Các chính sách này cần tập trung vào việc hỗ trợ người dân tiếp cận vốn, kỹ thuật, thị trường và bảo hiểm nông nghiệp. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích bảo tồn tài nguyên thiên nhiênbảo vệ môi trường.

5.1. Hỗ trợ vốn và kỹ thuật cho người dân canh tác nông nghiệp

Người dân cần được hỗ trợ vốn để đầu tư vào sản xuất, mua sắm vật tư và áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến. Cần có các chương trình tín dụng ưu đãi, các lớp tập huấn kỹ thuật và các dịch vụ tư vấn nông nghiệp để giúp người dân nâng cao năng lực sản xuất và quản lý trang trại.

5.2. Xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững tại Tà Đùng

Cần xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững từ sản xuất đến tiêu thụ, đảm bảo người dân có thị trường tiêu thụ ổn định và được hưởng lợi từ giá trị gia tăng của sản phẩm. Cần có các chính sách hỗ trợ xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm và kết nối với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.

VI. Tương Lai Phát Triển Nông Thôn Bền Vững Vùng Đệm Tà Đùng

Phát triển mô hình sinh kế bền vững từ canh tác nông nghiệp tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng là một quá trình lâu dài và cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Với sự hỗ trợ từ các chính sách, sự nỗ lực của người dân và sự hợp tác của các tổ chức, vùng đệm Tà Đùng có thể trở thành một hình mẫu về phát triển nông thôn bền vững, nơi con người và thiên nhiên sống hài hòa với nhau.

6.1. Du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp Tiềm năng phát triển

Du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp có tiềm năng phát triển lớn tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng. Việc kết hợp du lịchnông nghiệp giúp tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách và tăng thu nhập cho người dân. Cần có các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, quảng bá các sản phẩm nông nghiệp địa phương và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

6.2. Cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt để quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững. Cần trao quyền cho cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Cần có các cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và đảm bảo tiếng nói của cộng đồng được lắng nghe trong quá trình ra quyết định.

13/05/2025
Nghiên cứu phát triển các mô hình sinh kế bền vững dựa vào canh tác nông nghiệp của người dân ở vùng đệm vườn quốc gia tà đùng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm vùng đệm Hội thảo “Quản lý vùng đệm ở Việt Nam” tổ chức vào tháng 3/1999 tại Hà Nội có tác giả đã đưa ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo tồn Việt Nam như sau: "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm". Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm. Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm và tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích kinh tế và xã hội (KT – XH) từ vùng đệm và từ VQG.

Từ đó giúp việc quản lý VQG trở nên dễ dàng hơn [1]. Vùng đệm được hình thành dựa theo Khoản 15 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11, được nêu như sau: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng”. Bên cạnh đó theo Điều 3 Luật Đa dạng sinh học quy định “Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn” [2]. Đến năm 2006, ranh giới vùng đệm được quy định trong Quyết định 186/2006/QĐ- TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ tại Điều 24, Khoản 2 “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên” [3].

5 Điều 32 Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 Về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng đã xác định vùng đệm như sau: “Phạm vi vùng đệm gồm khu vực rừng, đất có dân cư sinh sống, đất ngập nước, khu vực biển tiếp giáp ranh giới ngoài hoặc nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng, có chức năng ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng bằng các biện pháp quản lý, bảo tồn gắn với các hoạt động nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền vững” [4]. Theo Thông tư số 10/2014/TT-BNNPTNT: "Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng đất có mặt nước, vùng đất ven biển và hải đảo, khu vực biển nằm trong ranh giới khu rừng đặc dụng hoặc liền kề với ranh giới khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển. Vùng đệm bao gồm vùng đệm bên trong và vùng đệm bên ngoài" [5]. Vùng đệm bên trong là vùng đệm nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng.

Vùng đệm bên ngoài là vùng đệm liền kề với ranh giới ngoài của khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển. Vùng đệm có tác dụng ngăn ngừa, giảm nhẹ sự xâm hại vào khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển; thu hút người dân tham gia các hoạt động của khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển theo phương thức đồng quản lí nhằm từng bước nâng cao, ổn định đời sống của người dân trong vùng đệm. Theo quy định tại Khoản 25 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017, vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng.2 Đặc điểm của vùng đệm Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng, hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm, cấm săn bắt, bẫy các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng.

Các doanh nghiệp đầu tư dự án vùng đệm phải có trách nhiệm kết hợp 6 với các cơ sở ban ngành các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn vùng đệm, đặc biệt với Ban Quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, định canh, định cư, trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, kết hợp với các phương pháp mới nhằm để ổn định và nâng cao đời sống của người dân.2 Sinh kế và sinh kế bền vững 1.1 Sinh kế Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự thống nhất rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Theo Arnold (1998), “Một sinh kế bao gồm các khả năng về tài sản (bao gồm cả vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện của cuộc sống. Một sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi từ sự căng thẳng và những cú sốc và duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản của mình trong hiện tại và tương lai trong khi không phá hoại tài nguyên thiên nhiên” [6]. Năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) nhận xét một sinh kế về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một đời sống tốt và duy trì nó.

Cách thức mà con người định nghĩa thế nào là một “đời sống tốt” rất thay đổi. Đối với các hộ gia đình sống trong các vùng nông thôn nghèo, một “đời sống tốt” có thể chỉ đơn giản là đủ ăn, có một mái nhà che mưa nắng và một mức an toàn tối thiểu cho gia đình. Đối với các nhóm khác tiêu chuẩn có thể cao hơn [7]. Sinh kế của hộ gia đình và các chiến lược mà con người sử dụng để tạo ra các sinh kế là cốt lõi của sự phát triển.

DFID (2001) cho rằng một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi, nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Sinh về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một đời sống tốt và duy trì nó [8]. 7 Năm 1998, Ellis cho rằng “Một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ” [9]. Còn Messer và Townsley (2003) ghi nhận một sinh kế về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một đời sống tốt và duy trì nó [10].

Viện Quốc tế về Phát triển bền vững (IISD, 2004) tổng kết rằng kết cấu của một sinh kế rất phức tạp, thường xoay quanh các vấn đề về thu nhập, kỹ năng và dịch vụ mà tất cả các thành viên trong một gia đình phải cố gắng kết hợp thực hiện nhằm giảm thiểu nguy cơ và để tồn tại được [11]. Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ. Đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.2 Sinh kế bền vững Trong thời đại kinh tế thị trường theo xu hướng phát triển bền vững, những nghiên cứu về sinh kế đi theo hướng bền vững. Sinh kế bền vững là một cách tiếp cận bằng nhiều phương pháp nhầm nhấn mạnh sự tham gia của nhân dân, xem giảm nghèo là kết quả chính.

Bao gồm một loạt mức độ và biện pháp cải thiện sinh kế từ những dự án quy mô địa phương đến các cuộc vận động quốc tế về những thay đổi chính sách. “Sinh kế bền vững” là thuật ngữ được DFID sử dụng từ những năm 1990 trong các chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững. Chambers và Conway (1992) định nghĩa “Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác.

Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai” [12]. 8 Sinh kế bền vững là một cách suy nghĩ về những mục tiêu, phạm vi và các ưu tiên phát triển, để tăng sự tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo. Sinh kế bền vững dựa trên nguyên tắc tiếp cận lấy con người làm trung tâm. Tính bền vững của sinh kế thể hiện ở khía cạnh: môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế [13].

Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phát huy được tiềm năng con người từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như những thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai, trên thực tế thì nó thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho thế hệ tương lai [14]. Mô hình sinh kế bền vững là hỗn hợp của những nhân tố đơn lẻ và những điều kiện môi trường nhằm mục tiêu mô tả học thuyết về tính thống nhất giữa sự sống và môi trường của đời sống cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu Phát triển Mô Hình Sinh Kế Bền Vững từ Canh Tác Nông Nghiệp tại Vùng Đệm Vườn Quốc Gia Tà Đùng" tập trung vào việc phát triển các mô hình sinh kế bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp, nhằm bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp canh tác bền vững mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các mô hình này, như tăng cường năng suất nông nghiệp, bảo vệ đa dạng sinh học và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Để mở rộng thêm kiến thức về tác động của thiên tai đến nông nghiệp và sinh kế, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu tác động một số hiện tượng thiên tai khí tượng thủy văn tới sản xuất nông nghiệp và sinh kế của cộng đồng dân cư tại cụm xã phía nam huyện đoan hùng tỉnh phú thọ. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức mà nông dân phải đối mặt và cách thức mà các mô hình sinh kế bền vững có thể hỗ trợ họ trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.