CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm vùng đệm Hội thảo “Quản lý vùng đệm ở Việt Nam” tổ chức vào tháng 3/1999 tại Hà Nội có tác giả đã đưa ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo tồn Việt Nam như sau: "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm". Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm. Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm và tạo điều kiện mang lại cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích kinh tế và xã hội (KT – XH) từ vùng đệm và từ VQG.
Từ đó giúp việc quản lý VQG trở nên dễ dàng hơn [1]. Vùng đệm được hình thành dựa theo Khoản 15 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11, được nêu như sau: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng”. Bên cạnh đó theo Điều 3 Luật Đa dạng sinh học quy định “Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn” [2]. Đến năm 2006, ranh giới vùng đệm được quy định trong Quyết định 186/2006/QĐ- TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ tại Điều 24, Khoản 2 “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên” [3].
5 Điều 32 Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 Về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng đã xác định vùng đệm như sau: “Phạm vi vùng đệm gồm khu vực rừng, đất có dân cư sinh sống, đất ngập nước, khu vực biển tiếp giáp ranh giới ngoài hoặc nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng, có chức năng ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng bằng các biện pháp quản lý, bảo tồn gắn với các hoạt động nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền vững” [4]. Theo Thông tư số 10/2014/TT-BNNPTNT: "Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng đất có mặt nước, vùng đất ven biển và hải đảo, khu vực biển nằm trong ranh giới khu rừng đặc dụng hoặc liền kề với ranh giới khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển. Vùng đệm bao gồm vùng đệm bên trong và vùng đệm bên ngoài" [5]. Vùng đệm bên trong là vùng đệm nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng.
Vùng đệm bên ngoài là vùng đệm liền kề với ranh giới ngoài của khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển. Vùng đệm có tác dụng ngăn ngừa, giảm nhẹ sự xâm hại vào khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển; thu hút người dân tham gia các hoạt động của khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển theo phương thức đồng quản lí nhằm từng bước nâng cao, ổn định đời sống của người dân trong vùng đệm. Theo quy định tại Khoản 25 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017, vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng.2 Đặc điểm của vùng đệm Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng, hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm, cấm săn bắt, bẫy các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng.
Các doanh nghiệp đầu tư dự án vùng đệm phải có trách nhiệm kết hợp 6 với các cơ sở ban ngành các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn vùng đệm, đặc biệt với Ban Quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, định canh, định cư, trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, kết hợp với các phương pháp mới nhằm để ổn định và nâng cao đời sống của người dân.2 Sinh kế và sinh kế bền vững 1.1 Sinh kế Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự thống nhất rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Theo Arnold (1998), “Một sinh kế bao gồm các khả năng về tài sản (bao gồm cả vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện của cuộc sống. Một sinh kế bền vững khi nó có thể ứng phó và phục hồi từ sự căng thẳng và những cú sốc và duy trì hoặc tăng cường năng lực và tài sản của mình trong hiện tại và tương lai trong khi không phá hoại tài nguyên thiên nhiên” [6]. Năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) nhận xét một sinh kế về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một đời sống tốt và duy trì nó.
Cách thức mà con người định nghĩa thế nào là một “đời sống tốt” rất thay đổi. Đối với các hộ gia đình sống trong các vùng nông thôn nghèo, một “đời sống tốt” có thể chỉ đơn giản là đủ ăn, có một mái nhà che mưa nắng và một mức an toàn tối thiểu cho gia đình. Đối với các nhóm khác tiêu chuẩn có thể cao hơn [7]. Sinh kế của hộ gia đình và các chiến lược mà con người sử dụng để tạo ra các sinh kế là cốt lõi của sự phát triển.
DFID (2001) cho rằng một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi, nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Sinh về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một đời sống tốt và duy trì nó [8]. 7 Năm 1998, Ellis cho rằng “Một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ” [9]. Còn Messer và Townsley (2003) ghi nhận một sinh kế về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng để đạt được một đời sống tốt và duy trì nó [10].
Viện Quốc tế về Phát triển bền vững (IISD, 2004) tổng kết rằng kết cấu của một sinh kế rất phức tạp, thường xoay quanh các vấn đề về thu nhập, kỹ năng và dịch vụ mà tất cả các thành viên trong một gia đình phải cố gắng kết hợp thực hiện nhằm giảm thiểu nguy cơ và để tồn tại được [11]. Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ. Đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.2 Sinh kế bền vững Trong thời đại kinh tế thị trường theo xu hướng phát triển bền vững, những nghiên cứu về sinh kế đi theo hướng bền vững. Sinh kế bền vững là một cách tiếp cận bằng nhiều phương pháp nhầm nhấn mạnh sự tham gia của nhân dân, xem giảm nghèo là kết quả chính.
Bao gồm một loạt mức độ và biện pháp cải thiện sinh kế từ những dự án quy mô địa phương đến các cuộc vận động quốc tế về những thay đổi chính sách. “Sinh kế bền vững” là thuật ngữ được DFID sử dụng từ những năm 1990 trong các chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững. Chambers và Conway (1992) định nghĩa “Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác.
Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai” [12]. 8 Sinh kế bền vững là một cách suy nghĩ về những mục tiêu, phạm vi và các ưu tiên phát triển, để tăng sự tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo. Sinh kế bền vững dựa trên nguyên tắc tiếp cận lấy con người làm trung tâm. Tính bền vững của sinh kế thể hiện ở khía cạnh: môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế [13].
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phát huy được tiềm năng con người từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như những thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai, trên thực tế thì nó thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho thế hệ tương lai [14]. Mô hình sinh kế bền vững là hỗn hợp của những nhân tố đơn lẻ và những điều kiện môi trường nhằm mục tiêu mô tả học thuyết về tính thống nhất giữa sự sống và môi trường của đời sống cộng đồng.