MỞ ĐẦU Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái rừng. Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (đất đai, nguồn nước, khí hậu,…). Hệ sinh thái rừng như vậy có tính đa dạng sinh học rất cao. Từ hệ sinh thái này, nếu giữ nguyên các loại cây gỗ đứng, người ta vẫn có thể thu hoạch các loại lâm sản khác có thể khái quát vào các nhóm sản phẩm như: Nấm ăn, dược liệu, cây cho hạt, cây có dầu, cây cho sợi, phấn và mật hoa, cây có thể làm thức ăn gia súc, rau rừng, trái cây rừng ăn được, song, mây, tre, cây cho nhựa, hoá chất, động vật rừng (côn trùng và động vật khác), nguồn gen cho các sản phẩm trên, sinh thái rừng và môi trường du lịch, thủy điện, ….
Ở Việt Nam, LSNG đã được khai thác, sử dụng nhiều từ thời cổ đại và nhiều loại LSNG được coi là những sản vật quý của đất nước như Linh chi, Tiền thảo; Ngũ gia bì; Thiên niên kiện,. LNSG có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với rất nhiều cộng đồng, đặc biệt là đồng bào miền núi. Giá trị LSNG của rừng được thể hiện như rừng cung cấp lương thực (củ Mài, củ Gạo,…), thực phẩm (Nấm, măng, rau rừng,…), Các loại cây cho hạt (Đào lộn hột; Các loại dẻ.), cung cấp dược thảo chữa bệnh (Nhân sâm, Hà thủ ô, Linh chi,…), cung cấp nguyên vật liệu xây dựng, làm đồ gia dụng, đan lát (các loại tre nứa, song mây),. VQG Ba Bể là một di sản thiên nhiên quý giá và có cảnh đẹp lôi cuốn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm ngày càng tăng.
Đó là một phức hệ gồm hồ, sông, núi đá vôi từ dốc vừa đến dốc đứng, xen giữa có nhiều núi đất tạo nên cảnh quan đa dạng và phong phú. Nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển nhưng Ba Bể bốn mùa đầy nước. Hồ có cấu tạo khá đặc biệt, thắt ở giữa và phình ra ở hai đầu, gồm 3 hồ lớn thông nhau là: Pé Lèng, Pé Lù, Pé Lầm và từ đó mà thành tên Ba Bể. Hồ nhận nước từ hai nguồn chính là sông Tà Han và sông Chợ Lèng.
Hồ còn có chức năng điều tiết, phân nước cho sông Năng vào mùa cạn và như một bế chứa cho sông vào mùa mưa lũ. Chính vì có sự lưu thông với các dòng sông mà nước hồ Ba Bể luôn vận động khiến cho nước hồ sạch và trong xanh. Cộng đồng dân cư tại những khu phục hồi sinh thái, khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia, các khu bảo đã sống ở đây từ rất lâu đời và cuộc sống của họ chủ yếu n 2 dựa vào rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên quanh hồ. Phần lớn các hộ gia đình đều thuộc diện đói nghèo (xã Nam Mẫu thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II).
Trong những năm qua, những hành vi xâm phạm của cộng đồng vào tài nguyên rừng như đốt nương làm rẫy, săn bắn động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép thường xuyên xảy ra đe dọa tới công tác bảo tồn của VQG. Với nhiều chương trình tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phát triển sản xuất từ chính quyền cũng như các tổ chức địa phương các cộng đồng đã ý thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật và làm tổn hại tới tài nguyên rừng, nhưng vì cuộc sống khó khăn và những đòi hỏi thực tế vẫn còn là những bất cập khiến họ không có nhiều lựa chọn. Đặc biệt trong thời gian hiện nay khi cơ cở hạ tầng đã được cải thiện đáng kể và các dự án có quan tâm hỗ trợ cho phát triển du lịch Bắc Kạn nói chung và du lịch sinh thái khu vực hồ Ba Bể nói riêng như dự án 3PAD, dự án có nguồn vốn GIZ, dự án có nguồn vốn từ ADB… khách du lịch tăng rõ rệt, nhu cầu về thực phẩm sạch, tại chỗ, nhất là đặc sản địa phương ngày càng tăng, đòi hỏi có những thay đổi về khả năng cung cấp gắn với cải thiện đời sống cho các cộng đồng địa phương. Xuất phát từ thực tế đó, một yêu cầu cấp bách cần đặt ra đối với VQG Ba Bể là cần phải tìm ra một nguồn sinh kế mới cho người dân, từ đó giảm áp lực của người dân vào tài nguyên rừng và đảm bảo quản lý rừng bền vững, trong đó nghiên cứu và phát triển gây trồng cây LSNG có giá trị kinh tế cao đang là một hướng đi đúng đắn và rất có triển vọng.
Tuy nhiên, cho tới nay, vấn đề phát triển trồng cây LSNG ở VQG Ba Bể vẫn chưa thực sự được chú trọng, phần lớn người dân vẫn vào rừng thu hái các loài LSNG tuy nhiên cũng có một số hộ đã gây trồng với quy mô rất nhỏ lẻ, tự phát và nguồn giống, kỹ thuật không phù hợp dẫn tới năng suất thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao. Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Nghiên cứu thực trạng phát triển một số loài LSNG có giá trị sử dụng làm thực phẩm tại khu vực vùng đệm VQG Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện là thực sự cần thiết, nhằm lựa chọn được loài cây, kỹ thuật trồng cây LSNG có triển vọng nhất đối với khu vực. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ Đã có nhiều tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ đang được sử dụng rộng rãi hiện nay như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm rừng không phải là gỗ,.
Hầu hết mọi người đều có cùng quan điểm coi các khái niệm trên là đồng nhất, để chỉ các sản phẩm của rừng không phải là gỗ như: động vật rừng, các cây dược liệu, các sản phẩm từ cây rừng không phải là gỗ, các sản phẩm phụ từ khai thác gỗ (cành, lá, gốc, rễ,. Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp của một loài hoặc một nhóm loài nhất định. Nhưng chưa có một công trình nào đưa ra được một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này. + Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm 1989 do W.
Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi”. (The Economic value of Non - timber Forest products in Southeast asia - W. Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products - NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”.
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người, bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi,. Nghiên cứu trên thế giới LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng nghìn năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn n 4 Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng. Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau.
Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một trong những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [3]. Trong công tác này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới. Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia.A Hubermen và U Aung Din de F.D (1963) với công trình “Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa Ấn Độ, Pakistan liên quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái sinh, khai thác. Widjaja (1995) [27] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á.
Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các nghiên cứu về song, mây và một số cây thuốc, cay lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được đề cập đến. Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng Zhou Fangchun (2000) [28] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc. n 5 Ở Malaysia bước đầu đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song, mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau. Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng Mây giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7].