phần mở đầu và kết luận, đề tài có kết cấu gồm 3 phần chính như sau: - Phần 1: Tổng quan về xuất khẩu hàng TCMN. - Phần 2: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm TCMN của Yên Bái và một số tỉnh miền núi phía Bắc. - Phần 3: Một số giải pháp và những kiến nghị để xuất nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm TCMN của Yên Bái và các tỉnh miền núi phía Bắc. PHAN I TONG QUAN VE XK HANG TCMN L KHAI QUAT CHUNG 1.
Khai niém Nhóm hàng TCMN thudng duge quan niém la tép hop cdc hàng hoá tiêu dùng được sản xuất thủ công, có tính mỹ thuật cao, luôn gắn liên với phong tục tập quán và mang đậm các nét văn hoá của nơi tạo ra hàng hoá đó. Hàng TCMN thường là các sản phẩm truyền thống của một địa phương hay một quốc gia nào đó. Cũng cần phân biệt hàng TCMN với những hàng hoá thông thường được làm bằng phương pháp thủ công. Giữa chúng có sự khác biệt cơ bản là hàng TCMN có tính mỹ thuật cao theo sự cảm nhận và đòi hỏi của người tiêu dùng.
Như thế thì một sản phẩm thủ công bình thường cũng sẽ trở thành hàng TCMN nếu người sản xuất ra nó (hoặc người khai thác nó) có được sự hiểu biết về khách hàng về thị trường để rồi tạo ra và truyền cho nó một giá trị nghệ thuật nhất định thông qua cdc thủ pháp, cách biểu hiện khác nhau trên một sản phẩm như tạo dang, trang tri, sử dụng nguyên liệu. Đặc điểm cơ bản của hàng TCMN © -_Đặc điểm về nguyên vất liêu Hàng TCMN có thể được sản xuất bằng rất nhiều nguyên vật liệu khác nhau, chẳng hạn các nguyên vật liệu nguồn gốc thực vật như các loại vỏ cây (đay, gai, qué, xơ dừa.); từ cây thân gỗ, thân sợi (tre, nứa, vầu, giang, luồng, mây.); hoặc từ các loại lá (lá buông, lá đừa.) và từ các loại rễ, quả cây (guột, sọ đừa, quả thông. Bên cạnh đó người ta cũng dùng các loại nguyên liệu như da, xác động vật, sừng, ngà; các loại vật liệu vô cơ như đá, kim loại. Có rất nhiều sản phẩm TCMN được sản xuất từ những nguyên liệu được coi là bỏ đi, là phế phẩm của các ngành sản xuất khác do đó nguyên liệu luôn là một trong số các yếu tố cạnh tranh hiệu quả trong sản xuất hàng TCMN.
Việt Nam là nước vùng nhiệt đới với sự đa dạng của các loại thực vật và khoáng sản, có nguồn nguyên liệu đồi dào để sản xuất hàng TCMN. Gần như toàn bộ nguyên liệu để sản xuất hàng TCMN là những thứ sẵn có và được khai thác tại chỗ như gỗ, tre nứa, lá. Để sản xuất hàng TCMN chúng ta chỉ phải NK khoảng từ 3 - 5% các nguyên phụ liệu. Vì vậy khi sản xuất và XK hàng TCMN, chúng ta đã XK được khá nhiều những nguyên liệu được coi là bỏ đi, là phế liệu của các ngành 1 Đề tài "Phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu các tỉnh miền núi phía Bắc qua thực tiễn của Yên Bái" sản xuất khác.
Tuy nhiên, cũng giống như một số sản phẩm được sản xuất từ các nguyên liệu tự nhiên, các sản phẩm hàng TCMN rất dễ bị biến đổi chất lượng dưới tác động phức tạp của thời tiết và môi trường dẫn đến sản phẩm thường bị khuyết tật như cong vênh, nứt, biến màu, mọt, nấm mốc. Vi thế việc sử lý nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất luôn được coi như một khâu cực kỳ quan trọng, có tác động quyết định đến chất lượng sản phẩm. ©_ Đặc điệm về công nghệ sản xuất và tiêu dùng Hàng TCMN là mặt hàng được sản xuất bằng kỹ thuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết của nghề. Công cụ sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra.
Công nghệ của nghề thủ công hầu như phụ thuộc vào tay nghề kỹ năng, kỹ xảo của người thợ đối với sản phẩm. Sản phẩm không chỉ đòi hỏi lao động khéo léo của người thợ mà còn đòi hỏi sự tích luỹ qua nhiều thế hệ. Và những kinh nghiệm này trải qua thời gian đã trở thành bí quyết nghề nghiệp. Bí quyết chỉ được phép truyền cho con cháu trong gia đình và dong ha, là yéu tố tạo nên chất lượng vả sắc thái riêng của sản phẩm, khiến sản phẩm có thể bền hơn, đẹp hơn và khác biệt so với sản phẩm của các nơi khác.
Do vậy có thể hiểu đặc điểm này đã quy định tính chất lao động và tính chất sản phẩm của nghề truyền thống, khác hắn với lao động của người nông dân hay người công nhân. Một đặc tính quan trọng của công nghệ truyền thống là không thể thay thé hoàn toàn bằng công nghệ hiện đại, mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu sản xuất nhất định. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự phát triển trong sản xuất hàng TCMN đã tạo nên một sự kết hợp giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này đã đem lại những ưu thế đặc biệt quan trọng.
Tạo ra năng suất lao động cao hơn gấp nhiều lần so với lao động thủ công, sản phẩm được sản xuất với chất lượng cao, đồng đều. Mục đích tiêu dùng của khách hàng đối với hàng TCMN cũng mang những đặc điểm riêng biệt. Thông qua tiêu đùng các sản phẩm TCMN, người ta cảm nhận được giá trị nghệ thuật của sản phẩm từ sự tỉnh tế, sự sáng tạo và khéo léo trong tạo dáng; sự khác biệt của từng loại nguyên vật liệu làm ra chúng; sự tỉnh xảo và điêu luyện của người thợ và hơn tat cả là sự kết tình những nét văn hoá và truyền thống của. cả một dân tộc, của một khu vực địa lý hay một địa phương trong sản phẩm.
©_ Đặc điểm của một sản phẩm mang đâm nét văn hoá truyền thông Dé tài "Phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu các tỉnh miễn núi phía Bắc qua thực tiễn của Yên Bai" Đặc điểm riêng nhất, đặc sắc nhất của sản phẩm TCMN là độc đáo và có tính nghệ thuật cao. Đặc điểm nảy được quyết dịnh bởi kỹ thuật công nghệ sản xuất thủ công truyền thống đã có từ hàng trăm năm, hàng nghìn năm và tổn tại cho đến ngày nay. Sản phẩm của mỗi vùng thể hiện một trình độ kỹ thuật, đặc trưng riêng của vùng đó mà nơi khác không thể có, hoặc nếu có nhưng không phổ biến. Do vậy người ta có thể phân biệt được sản phẩm gốm, sứ của Bát Tràng với gốm, sứ của Đổng Nai, sản phẩm đúc đồng của Đại Bái với sản phẩm đúc đồng của Thừa Thiên Huế.
Các sản phẩm đều là sự kết hợp giữa phương pháp sản xuất thủ công tỉnh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Người nghệ nhân thông qua quá trình lao động và sáng tạo của mình đã truyền vào mỗi sản phẩm cái hồn của cuộc sống, nó có thé là sự diễn tả các hoạt động của con người trong lao động sản xuất, là phong tục truyền thống, là tín ngưỡng, tôn giáo, là ước muốn của con người trong chỉnh phục thiên nhiên. Đó chính là sự phản ánh những nét truyền thống và bản sắc văn hoá của dân tộc. Do vậy, có thể nói sản phẫm mỹ nghệ truyền thống là kết quả hoạt động kinh tế vừa có tính giản đơn, vừa có tính phức tạp của lao động thủ công, đồng thời cũng là sản phẩm của hoạt động kinh tế mang tính văn hoá nghệ thuật cao.
Hàng TCMN truyền thống là sản phẩm riêng có của làng nghề truyền thống bởi đó là sự kết tỉnh thống nhất giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh than. Một đặc điểm nữa của loại hàng hoá này là tính riêng lẻ, đơn chiếc của mỗi mặt hàng. Đây là đặc điểm độc đáo do sự quy định của việc sử dụng công cụ thủ công và công nghệ truyền thống. Sản phẩm được tạo ra do từng cá nhân thực hiện từ các nguyên, phụ liệu đặc biệt bằng công cụ thủ công kết hợp với óc sáng tạo độc đáo của người thợ nên không thể sản xuất hàng loạt mà chỉ là kết tỉnh đơn chiếc do đó nó luôn mang một bản sắc và sự hấp dẫn riêng.
©_ Đặc điểm và sự gắn bó với sản xuất nông nghiệp nông thôn. Hàng TCMN ra đời và phát triển từ làng sản xuất nông nghiệp nông thôn, đó là mối quan hệ hai chiều chặt chẽ được thẻ hiện dưới nhiều mức độ và sắc thái khác nhau. Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người nông dân trong nền kinh tế tự cấp tự túc, nghề thủ công dần dần xuất hiện với tư cách là một nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê. Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu đã tạo điều kiện cho các làng nghề thủ công phát triển.
Ở nông thôn, thời gian đành cho hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là không nhiều, nhiều lắm cũng chỉ sử dụng 1⁄3 đến 1/2 thời gian lao động trong năm. Thời gian lao động ít, năng suất lao động thấp đã không đảm bảo thu nhập cho người nông dân, vì vậy nhu cầu việc làm để có thêm x > £ 3 x z _ 3 Dé tai "Phat trién hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu các tỉnh miễn núi phía Bắc qua thực tiễn của Yên Bái" thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết. Đồng thời do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định. Mặt khác, do nhu cầu về sản phẩm TTCN đặc biệt là các mặt hàng TCMN truyền thống của người dân ngày càng cao.Tất cá những yếu tổ trên đã thúc đầy sản xuất hàng thủ công nói chung và hàng TCMN nói riêng hình thành và phát triển.
Hàng TCMN truyền thống ban đầu là đáp ứng các nhu cầu tự phát của người dân nông thôn, sau đó ngày càng được mở rộng phạm vi, dần gắn với các quan hệ hàng hoá, quan hệ thị trường. Sự trao đối ngày càng được mở rộng hơn bới sự tăng lên của nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Trên cơ sở đó, sản xuất hàng TCMN đã thực sự trở thành cầu nối, giao lưu giữa hoạt động sản xuất TCN với hoạt động sản xuất nông nghiệp. ©_ Đặc điểm về lao động Lao động được sử dụng trong sản xuất hàng TCMN là những lao động thủ công có tay nghề khéo léo, có đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo.