chương 1 của luận văn đã tổng hợp được một số khái niệm có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn. Từ đó đưa ra những nét khái quát nhất về các điều kiện phát triển du lịch của tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở giúp đưa ra được những nghiên cứu đánh giá và đề xuất được một số giải pháp về phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn trong các chương sau. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC KẠN 2. Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn 2.
Sơ lược về tỉnh Bắc Kạn Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Trung du và Miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội khoảng 168 km về phía Bắc, tiếp giáp với 4 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tỉnh được tái lập năm 1997 với 8 đơn vị hành chính (1 thành phố trực thuộc tỉnh và 7 huyện). Diện tích tự nhiên là 4.859,4 km2, dân số khoảng 318.000 người gồm nhiều dân tộc anh em sinh sống (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay), trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80% [8, tr. Nằm trên quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng - trục quốc lộ quan trọng của vùng Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế lớn, quốc lộ 3 chia lãnh thổ thành 2 phần bằng nhau theo hướng Bắc - Nam, là vị trí thuận lợi để Bắc Kạn có thể dễ dàng giao lưu với tỉnh Cao Bằng và các tỉnh của Trung Quốc ở phía Bắc, với tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội cũng như các tỉnh của vùng Đồng bằng sông Hồng ở phía Nam.
Bắc Kạn là một vùng đất có tiềm năng rất lớn về du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái cùng với đó là lợi thế tiếp giáp với nhiều địa bàn nội địa có nhiều tiềm năm phát triển du lịch: Thái Nguyên, Cao Bằng. Bắc Kạn còn có bản sắc văn hóa đa dạng của nhiều dân tộc anh em được bảo lưu qua nhiều thế hệ. Vì thế, trên đường hội nhập ngành Du lịch Bắc Kạn đang có nhiều lợi thế để phát triển loại hình du lịch mà đông đảo khách du lịch quốc tế và trong nước hướng đến là: Du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch cộng đồng. Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh giai đoạn 2011 – 2015 đạt 5,9%/năm, trong đó: z 24 Khu vực nông - lâm - ngư nghiệp tăng 9,4%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%/năm; khu vực dịch vụ tăng 15,67%/năm.
Tổng giá trị gia tăng (GRDP) theo giá hiện hành năm 2015 đạt 7.823 tỷ đồng, tăng 490 tỷ đồng so với năm 2014. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 25 triệu đồng, tăng 1,1 triệu đồng so với năm 2014. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Năm 2015, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 35,95%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 15,33%; khu vực dịch vụ chiếm 46,37%.
So với năm 2014, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp tăng 2,7%; khu vực công nghiệp - xây dựng giảm 3,4%; khu vực dịch vụ giảm 1,5% [25, tr. Tốc độ tăng trưởng của khu vực thương mại, dịch vụ trong những năm qua đạt kết quả khá và ổn định. Giai đoạn 2011 - 2015 tăng trưởng bình quân đạt 12,6%/năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2015 đạt 3.069 triệu đồng [41,tr. Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân và khách du lịch, trong đó: Vận chuyển hành khách 942,6 nghìn người, hành khách luân chuyển là 82,68 triệu người/km; vận chuyển hàng hóa ước đạt 1.358,5 nghìn tấn, với khối lượng hàng hóa luân chuyển là 22,886 triệu tấn/km.
Doanh thu vận tải đầu năm 2015 đạt 168,037 tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2014 [41, tr. Tỉnh đã xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn nhằm khai thác có hiệu quả các lợi thế về địa lý và các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như nhân văn để nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh nói chung và kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng và đạt được nhiều kết quả khả quan. Tỉnh xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn hỗ trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển. Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Kạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Bắc Kạn đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, sẽ thu hút 50.000 lượt khách quốc tế và 1,5 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 4.000 buồng lưu trú du lịch; z 25 nhu cầu lao động trong du lịch 27.000 lao động (Trong đó có 9.000 lao động trực tiếp).
3] Từ năm 2020 - 2030, tỉnh Bắc Kạn phấn đấu xây dựng khu du lịch Ba Bể thành khu du lịch quốc gia và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh với những bước phát triển bền vững, làm động lực thúc đẩy phát triển các ngành khác cũng như kinh tế - xã hội của tỉnh; tạo tiền đề đến năm 2030, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, sản phẩm du lịch chất lượng, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh. Tỉnh cũng góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao dân trí và đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; giữ gìn, phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường. Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Kạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cụm du lịch Ba Bể và vùng phụ cận được ưu tiên số 1, trong đó ưu tiên phát triển du lịch vùng hồ Ba Bể với những cảnh quan hấp dẫn như hang động, thác nước, đảo cùng các làng bản ven hồ gắn với nghệ thuật dân gian hát then, đàn tính, nghề thủ công và các lễ hội truyền thống; xây dựng, phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí chất lượng cao, du lịch mạo hiểm tại khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể; tạo dựng được hệ thống các sản phẩm du lịch vừa đa dạng, vừa đặc thù và có chất lượng cao; đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững. Về kinh tế, tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh ngành kinh tế du lịch và nâng cao mức đóng góp vào thu nhập của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo công ăn việc làm và chiếm tỉ trọng đáng kể trong khối ngành dịch vụ – thương mại du lịch.
Về văn hóa xã hội, gắn du lịch với việc bảo tồn và phát huy bản sắc của địa phương đồng thời khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, đa dạng hóa các sản phẩm để thu hút khách du lịch nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động. Các sản phẩm độc đáo mang đặc trưng của địa phương được chú trọng, z 26 đặc biệt là truyền thống văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, phong tục tập quán có ưu thế cạnh tranh và tạo sức hút mạnh trong thị trường du lịch. Mô hình du lịch cộng đồng homestay tại bản Pác Ngòi là một ví dụ hay văn hóa ẩm thực đồng bào Tày cũng có sức hút mạnh đối với du khách trong và ngoài nước. Một số sản phẩm du lịch chuyên đề được khai thác dựa vào thế mạnh của địa phương như du lịch tham quan, leo núi, nghỉ dưỡng… Tỉnh đến nay Bắc Kạn có 24 khách sạn, 180 nhà nghỉ tư nhân, nhà có phòng nghỉ cho thuê, 1 nhà khách của vườn quốc gia Ba Bể.
Trên địa bàn huyện Ba Bể phát triển rất nhiều nhà có phòng trọ cho thuê phục vụ du lịch theo hình thức homestay tại các bản Bó Lù, Pác Ngòi và xã Nam Mẫu. Theo số liệu thống kê của Sở VHTTDL tỉnh, tổng lượng du khách đến thăm quan du lịch Bắc Kạn năm 2011 khoảng 192.000 lượt tăng khoảng 40.000 lượt người so với năm 2010 trong đó khách nội địa là khoảng 185.000 lượt người, khách du lịch quốc tế là 7000 lượt người. Tổng doanh thu ước đạt 135 tỉ đồng tăng gần gấp đôi so với năm trước, công suất sử dụng phòng đạt 63% [27, tr. Tính đến năm 2016 lượng khách du lịch là 400.000 lượt khách trong đó khách du lịch nội địa 389.800 và khách du lịch quốc tế 10.200 ước đạt doanh thu 280 tỉ đồng Trong khi năm 2015 tổng lượng khách du lịch chỉ đạt 360.000 lượt khách, doanh thu tương ứng 210 tỉ đồng.
Như vậy, trong giai đoạn từ 2010 đến năm 2016 lượng khách du lịch tăng trưởng 108,3 %, doanh thu tăng trưởng 107 %, tốc độ tăng trưởng bình quân lượt khách đạt 18,1. Lượng khách quốc tế đến Bắc Kạn chủ yếu thăm quan hồ Ba Bể theo các tour du lịch đường bộ từ Hà Nội đến [27, tr. Hiện trạng hoạt động du lịch của tỉnh Bắc Kạn cho thấy còn thấp so với các tỉnh khác trong cả nước chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên du lịch vốn có. Việc tổ chức dịch vụ cho khách du lịch còn nhiều yếu kém.
Trong hầu hết các điểm du lịch ở Bắc Kạn chỉ có vườn quốc gia Ba Bể là đón được z 27 lượng khách du lịch cao nhất trong toàn tỉnh, chiếm khoảng 40% tổng lượng khách nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng du lịch nơi đây. Các cơ sở dịch vụ còn khá sơ sài, hệ thống các sân chơi thể thao, câu lạc bộ hầu như nằm trong tình trạng tự phát. Chính vì vậy, nguồn thu từ du lịch của tỉnh vẫn còn khá thấp.Thực trạng về nguồn nhân lực địa phương giai đoạn này vẫn còn thiếu và nhiều yếu kém, trình độ quản lí, lao động chưa cao. Để du lịch Bắc Kạn phát triển tương xứng với tiềm năng và trở thành một trong những nền kinh tế mũi nhọn, ngoài xây dựng một chiến lược chi tiết, với các nhóm giải pháp khả thi, cụ thể, tỉnh cần nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã hội về vai trò, vị trí của ngành Du lịch trong thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng giao lưu văn hoá tạo đà phát triển cho ngành Du lịch.