ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bị suy giảm một cách nhanh chóng làm mất đi môi trường sống của nhiều loài động vật, thực vật và các loài cây lâm sản ngoài gỗ đã được khai thác sử dụng từ lâu đời thuộc nhiều nhóm giá trị sử dụng khác nhau như cây cho sợi, cây làm dược liệu, cây làm thực phẩm, cây cho dầu, nhựa hay sơn, chất nhuộm, tanin. Bồ đề là một trong những loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng, được xếp vào nhóm cây cho nhựa thơm, trong thành phần của nhựa có chứa tinh dầu thơm. Bồ đề có tên khoa học Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hartwich,1913 là Cây gỗ trung bình, rụng lá, cao 15 – 20 m, đường kính 20-25 cm.
Thân thẳng, vỏ nhắn màu nâu nhạt hay xám bóng. Cành mọc gần ngang ở 1/3 phía ngọn của thân; cành con hình trụ, khi non có lông tơ, sau nhẵn màu nâu. Nhựa Bồ đề được dùng làm thuốc chữa viêm phế quản mãn tính, hen suyễn, ho, đau bụng lạnh, thổ tả, phụ nữ đẻ máu xấu, bị ngất. Dùng ngoài, nhựa làm vết thương mau lành, chữa nẻ vú, xua đuổi côn trùng, làm chậm ôi thiu.
Nhựa Bồ đề được phối hợp với các vị thuốc khác làm cao xoa. Nhựa Bồ đề là chất định hương, nên được dùng nhiều trong công nghiệp hoá mỹ phẩm và công nghiệp thực phẩm. Bồ đề là loài cây có giá trị kinh tế và bảo tồn cao góp phần giúp người dân thoát nghèo. Hiện nay các quần thể Bồ đề trong rừng tự nhiên đang bị suy giảm nghiêm trọng do bị khai thác quá mức và số lượng cây tái sinh tự nhiên còn ít.
Ở nhiều vùng của Việt Nam Bồ đề đang được coi là một trong những loài cây gỗ bản địa chính trong tập đoàn giống cây phục vụ công tác trồng rừng, kinh doanh lấy gỗ và lấy nhựa, phục hồi rừng tự nhiên. Tại tỉnh Hòa Bình, loài Bồ đề đã được người dân trồng ở nhiều địa phương 2 như Đà Bắc, Kim Bôi, Kỳ Sơn. từ nhiều năm nay với mục đích lấy gỗ là chính; ngoài ra cũng đã có một số địa phương trước đây khai thác nhựa, nhưng đã mai một dần. Do đó có nhiều vấn đề về kỹ thuật gây trồng, khai thác gỗ và nhựa tại địa phương cần được đánh giá, hoàn thiện và cải tiến.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phát triển cây Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hartwich.1913) kinh doanh lấy gỗ kết hợp lấy nhựa (Benzoin Gum) tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu - Tên đối tượng nghiên cứu: Bồ đề - Tên khoa học: Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hartwich, 1913 - Tên khác: Cánh kiến trắng, Bồ đề trắng, An tức bắc bộ - Họ: Bồ đề (Styracaceae) Hình thái: Cây gỗ trung bình, rụng lá, cao 15 – 20 m, đường kính 20-25 cm. Thân thẳng, vỏ nhắn màu nâu nhạt hay xám bóng.
Cành mọc gần ngang ở 1/3 phía ngọn của thân; cành con hình trụ, khi non có lông tơ, sau nhẵn màu nâu. Lá mọc so le, mềm, hình trứng, hình bầu dục, kích thước 4,5 – 10 x 2,6 – 5 cm; đầu thuôn nhọn, mặt trên nhẵn, màu lục, mặt dưới phủ lông trắng mịn, hình sao, gân lá nổi rõ, mép nguyên hoặc có răng rất nhỏ ở phía đầu lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành và kẽ lá thành chùm dài, phủ nhiều lông hình sao; lá bắc sớm rụng. Hoa nhỏ màu trắng, có mùi thơm nhẹ; đài hình chén có 5 - 6 răng nhỏ, tràng có 5 cánh liền ở gốc, phía trên xếp lợp, mặt ngoài có lông tơ vàng; nhị 10, rời, đính trên ống tràng, có lông hình sao; bầu hình trứng, cũng có lông, 3 ô, chứa nhiều noãn.
Quả nang hình trứng hay hình cầu, có đài tồn tại bọc 1/3 phía dưới quả; mở thành 3 mảnh; hạt có vỏ cứng, dày và nhăn nheo. Hình thái loài Bồ đề (Styrax tonkinensis (Pierre) Craib ex Hartwich.1913) (Nguồn: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam – Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Phần II) Phân bố Việt Nam: Bồ đề là cây đặc hữu của vùng Bắc Đông Dương bao gồm Bắc Việt Nam và Lào. Ở nước ta, loài Bồ đề phân bố tương đối rộng ở các tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, Việt Bắc, xuống đến vùng tây Thanh Hóa, và còn rải rác tới Nghệ An, giữa 19 - 23º vĩ Bắc và 103 - 107º kinh Đông. Cây thường gặp nhất ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ; giảm dần ở các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, dọc phần trên của lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Mã.
Bồ đề đã được trồng ở vùng trung tâm từ hàng chục năm nay. Thế giới: Lào, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây). Về đặc điểm sinh học Bồ đề được coi là cây tiên phong ưa sáng. Trong tự nhiên, Bồ đề thường tái sinh mạnh sau nương rẫy, sau khi rừng mới bị tàn phá và trên các vùng đất trống tương đối lớn, ở độ cao 600 – 1.
Trong các rừng phục hồi, Bồ đề mọc thuần loài hoặc xen với nứa và một số cây nhanh, ưa sáng khác nhau như: Thôi ba, Hu ba soi, Ba dét, Dướng,… Bồ đề là cây ưa sáng mọc nhanh; cây thường chiếm tầng trên 5 của rừng và dưới tán của nó không có tái sinh. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho sinh trưởng của Bồ đề trong khoảng 15 - 25ºC; cây cũng có khả năng chịu rét tương đối tốt (- 4ºC), nên có thể lên tới độ cao 1500 m trên mặt biển. Tuy vậy, cây cũng không chịu được nhiệt độ cao (nhất là cây non) và cũng không chịu được khô hạn. Lượng mưa trong vùng phân bố Bồ đề thường trong khoảng 1.
Thường chỉ gặp Bồ đề phân bố ở các vùng ẩm và còn mang tính đất rừng rõ rệt. Nó cũng là cây có chu kỳ kinh doanh ngắn, thường say 10 - 12 năm là rừng Bồ đề có thể khai thác. Hàng năm, cây Bồ đề có thời kỳ rụng hết lá và ngừng sinh trưởng, thường vào các tháng 11, 12 đến tháng 1, 2 năm sau. Đặc điểm rụng lá, tán thưa, thảm mục ít là các nhược điểm cơ bản của rừng Bồ đề trong bảo vệ môi trường.
Chỉ gặp Bồ đề phân bố trên các loại đất phát triển từ các loại đá mica, phiên thạch sét với lớp đất mặt sâu và ẩm. Cây không ưa núi đá vôi. Trên cát và đá ong, cây không sinh trưởng được. Cây tái sinh rất mạnh ở nơi đất trống, quang đãng.
Hạt được bảo quản lâu trong đất, khi có điều kiện thuận lợi về ánh sáng, lại nẩy mầm và phát triển thành cây con. Mùa hoa tháng 4 - 6; mùa quả chín tháng 7 - 10. Trên thế giới Bồ đề (Styrax ) là một chi lớn, gồm khoảng 120 loài, phân bố ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới thuộc châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Ở nước tam chi Bồ đề có khoảng 13 loài.
- Thành phần hóa học: Các kết quả phân tích của Feng Wang và cộng sự (2006) đã cho biết trong nhựa Bồ đề ở miền Nam Trung Quốc chứa các triterpenoid như 6β-hydroxy-3-oxo-11α, 12α-epoxyolean 28,13β-olid; 3β, 6β-dihydroxy- 11α, 12α-epxyolean-28, 13- olid; 3β, 6β- dihydroxy-11-oxo-olean; 12-en- 28-oic acid; 3β- hydroxy-12-Oxo-13Ha-olean-12-en- olid; 19α-hydroxy- 6 3-oxo-olean-12-en; 28-oic acid; 68-hydroxy-3-oxo-olean-12-en-28-oic acid; sumaresinolic acid; siaresinolic acid và oleanolic acid. Những thử nghiệm ban đầu đã cho biết, nhiều triterpenoid từ nhựa bồ đề có hoạt tính ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào Leukemia HL- 60 ở người. - Công dụng: Nhựa Bồ đề được dùng làm thuốc chữa viêm phế quản mãn tính, hen suyễn, ho, đau bụng lạnh, thổ tả, phụ nữ đẻ máu xấu, bị ngất. Dùng ngoài, nhựa làm vết thương mau lành, chữa nẻ vú, xua đuổi côn trùng, làm chậm ôi thiu.
Nhựa Bồ đề được phối hợp với các vị thuốc khác làm cao xoa. Nhựa Bồ đề là chất định hương, nên được dùng nhiều trong công nghiệp hoá mỹ phẩm và công nghiệp thực phẩm. Gỗ Bồ đề mềm, thớ mịn, sáng màu, không có lõi; được dùng làm diêm, làm đũa và nguyên liệu giấy. Indonesia là nước sản xuất nhựa Bồ đề (benzoin) từ loài Bồ đề nam dương (Styrax paralleloneurum Perkins) với khối lượng rất lớn, đạt tới 4000 tấn/năm (thời kỳ 1990 - 1993) với giá trị khoảng 4,8 triệu USD.
Ba phần tư sản lượng được dùng trong nước, còn k để xuất khẩu, chủ yếu là sang Singapore. Tại đây nhựa Bồ đề chủ yếu được dùng làm hương, làm chất thơm, làm thuốc và hương thơm trong công nghiệp thuốc lá. Nhân dân nhiều bộ tộc Lào cũng có tập quán khai thác nhựa Bồ đề (S. tonkinensis) từ rất lâu đời.
Bồ đề thường được chích nhựa lần đầu ở giai đoạn khoảng 8 tuổi. Cây có thể cho nhựa liên tục trong khoảng 6 – 7 năm tiếp theo. Nhưng càng về sau năng suất nhựa càng giảm. Đến giai đoạn cây được 14 – 15 năm tuổi thì cần tiến hành khai thác gỗ và trồng lại rừng.
Ngoài ra cuộc khảo sát đã chứng minh khả năng sử dụng S. tonkinensis làm gỗ. tonkinensis là loại gỗ trung gian so với các loài gỗ khác về đặc tính vật liệu. Ứng suất tăng trưởng và các đặc tính vật 7 lý chỉ ra rằng S.
tonkinensis hình thành gỗ căng ở thân nghiêng của nó, do đó gỗ phải được xử lý cẩn thận. Kết quả cho thấy có tiềm năng mở rộng trọng tâm canh tác S. tonkinensis để bao gồm việc sử dụng làm vật liệu xây dựng, góp phần hướng tới nông lâm kết hợp bền vững. Tại Indonesia, người dân địa phương có kinh nghiệm tạo nhựa cánh kiến trắng trên cây Bồ đề Nam dương (Styrax paralleloneurum Perkins) mọc ở vùng Bắc đảo Sumatra từ hàng trăm năm nay.
Cây được chọn để chích nhựa phải đạt ít nhất 8 năm tuổi và bắt đầu ra hoa, sau đó có thể chích nhựa liên tục trong khoảng 60 năm tiếp theo. Người chích nhựa phải trèo lên cây cao 5-6 m, dùng một loại dao đặc biệt để cắt vỏ cây. Mỗi năm chỉ chích nhựa một lần. Trước khi chích nhựa phải phát quang các cây quanh gốc, chặt hết dây leo, loại bỏ cây phụ sinh.
Cạo hết vỏ khô, rêu và địa y bám trên thân cây bồ đề để khỏidính vào nhựa chảy ra. Loại dao đặc biệt có tên địa phương là “agat panuktuk”, được dùng để chích khoảng 20-30 vết thương, mỗi vết dài 2-3 cm. Một người có thể chích 5-8 cây trong một ngày. Ba tháng sau họ quay lại để thuhoạch nhựa lần đầu.
Đó là nhựa có chất lượng tốt nhất.