PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng họp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, có địa bàn hoạt động chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn; bộ máy tổ chức được xây dựng theo mô hình kinh te họp tác, hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cấp tín dụng và dịch vụ ngân hàng cho các thành viên của mình. Được xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và mau chóng trở thành phong trào lan rộng ở các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á. với nhiều tên gọi khác nhau như Hợp tác xã tín dụng, Quỳ tín dụng và tiết kiệm, QTDND, NHHTX,.
mô hình kinh tế này đã trở thành một bộ phận kinh tế quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân không chỉ ở những nước đang phát triển mà ở ngay các nước kinh tế phát triển như CHLB Đức, Hà Lan, Canada,. Ở Việt Nam, tiền thân của mô hình QTDND là các Hợp tác xã tín dụng được hình thành theo phong trào hợp tác hóa từ những năm 1960, cùng với sự thay đổi về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, loại hình này cũng đã có những thay đổi cả về tên gọi, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động; dù vậy, trong mọi hoàn cảnh loại hình TCTD này vẫn luôn khẳng định được vai trò đáng kể của nó trong việc tham gia giải quyết các mục tiêu liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Đảng và Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết lần thứ V Ban chấp hành TW Đảng khoá VII về chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, từ giữa năm 1993 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có chủ trương về xây dựng mô hình QTDND; căn cứ chủ trương này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 390/TTg cho phép triển khai thí điểm thành lập QTDND. Sau hơn hai mươi năm xây dựng và phát triển, cho đến nay, mô hình tổ chức của các QTDND về cơ bản đã được hoàn thiện.
Là loại hình TCTDHT hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên sinh sống và thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh ở 2 trong khu vực nông nghiệp, nông thôn, một khu vực được cho là rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương trước các điều kiện ngoại cảnh. Hơn nữa ngay trong nội bộ của hệ thống QTDND cũng còn nhiều tồn tại, dẫn tới sự kém an toàn của từng QTDND và của toàn hệ thống. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà Việt Nam đã thực sự trở thành một nước có nền kinh tể thị trường; Các NHTM và các loại hình TCTD khác phát triển ngày càng mạnh mẽ, thị phần vươn rộng hơn đến cả những khu vực từ trước đến nay vẫn được coi là lãnh địa riêng của QTDND; Trong bối cảnh đó QTDND muốn tồn tại và phát triển bền vững đòi hỏi phải có những thay đổi mang tính cách mạng. Bên cạnh đó, QTDND cũng giống như các TCTD hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng - một lĩnh vực được cho là tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên tính an toàn của mỗi QTDND và cả hệ thống càng phải được chú trọng.
Xuất phát từ yêu cầu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhăn dân ở Việt Nam” để xây dựng luận án. Là một trong những người tham gia ngay từ giai đoạn đầu thành lập thí điểm các QTDND, tác giả có điều kiện tiếp cận với quá trình thành lập, cho đến xây dụng và hoàn thiện mô hình hệ thống QTDND ở Việt Nam; tiếp cận, học tập kinh nghiệm phát triển hệ thống QTDND ở một số nước trên thế giới như hệ thống Desjardins, Canada, hệ thống NHHTX Đức, NHHTX Rabobank - Hà Lan, NHHTX ở Vân Nam - Trung Quốc,. Thông qua thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn đề xuất các giải pháp để hệ thống QTDND ở Việt Nam phát triển bền vững trong thời gian tới. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Ngay từ những năm năm mươi của thế kỷ trước, PTBV đã trở thành một môn khoa học được nhiều cá nhân, quốc gia và tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu này đã đưa ra được những khái niệm, nguyên tắc và tiêu chí để đánh giá sự PTBV, tiêu biểu trong số đó phải kể đến: - Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg năm 2002: Đã xác định “Phát triển bền vững là quá trình có sự kết 3 hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là phát triển kinh tể, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”. - Bộ tiêu chí DowJones [60], năm 1999, bộ tiêu chí về phát triển bền vững một doanh nghiệp lần đầu tiên được công bố đó là bộ tiêu chí DowJones (bảng 1). Bộ tiêu chí này ra đời nhằm đánh giá thành tích trên 3 chiều kích của phát triển bền vững là kinh tể, môi trường và xã hội của các doanh nghiệp lớn.
Bộ tiêu chí phát triển bền vững Dow Jones Các chiều kích Tiêu chí Trọng số của các tiêu chí - Qui tắc ứng xừ/ tuân theo luật lệ/ hối 5.5 lộ-đútlót Kinh tế - Quản trị doanh nghiệp 6.0 - Quản tri rủi ro và khủng hoảng 6.0 - Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề Tùy theo ngành nghề - Thành tích về môi trường 7.0 Môi trường - Có bản báo cáo về môi trường 3.0 - Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề Tùy theo ngành nghề - Hoạt động từ thiện 3.5 - ứng dụng các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế 5.0 Xã hội - Việc phát triển vốn con người 5.5 - Có báo cáo vê hoạt động xã hội 3.0 - Khả năng thu hút 5.5 - Các chỉ tiêu riêng của ngành nghê Tùy theo ngành nghề Các chỉ tiêu trên được thể hiện bàng các câu hỏi cụ thể và người đứng đầu doanh nghiệp sẽ phải cung cấp câu trả lời. VD: về khía cạnh môi trường, doanh nghiệp sẽ cho biết trong năm qua hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ đã thải ra bao nhiêu lượng khí co2, đã tiêu thụ bao nhiêu nước sạch,. về khía cạnh xã hội, có sự phân biệt đối xử về giới tính trong vấn đề lương hay không, tỷ lệ nữ đảm trách các trách nhiệm lãnh đạo,. - Bộ tiêu chí GRI [61]: Đến năm 2002, tổ chức Global Reporting Initiative (GRI) đưa ra một bộ tiêu chí khác được xem là đầy đủ và rõ ràng hơn và nó vẫn xoay quanh 3 chiều kích của phát triển bền vững giống như bộ tiêu chí DowJones, cụ thể như sau (bảng 2): 4 Bảng 2.
Bộ tiêu chỉphát triển bền vững GRI Các chiều kích Các khía cạnh - Những tác động kinh tế trực tiếp của doanh nghiệp Kinh tế - Sự diện diện trên thị trường - Những tác động kinh tế gián tiếp - Nguyên vật liệu - Năng lượng - Nước sạch Môi trường - Đa dạng sinh học - Rác thải - Sản phẩm và dịch vụ - Vận tải - Nhân công - Quản lý các mối quan hệ lao động Lao động - Sức khỏe và an toàn - Đào tạo và giáo dục - Sự đa dạng và cơ hội - Chiến lược và quản lý - Không phân biệt đổi xừ - Quyền tự do lập nhóm Quyền con ngưòi - Lao động trẻ em - Lao động cưỡng bức - Việc tuân thủ các qui tắc lao động và an toàn Tuân thủ luật lệ địa phương - Cộng đồng - Hối lộ và tham nhũng Xã hội - Các đóng góp về mặt hành chính - Cạnh tranh và giá cả - Sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng - Sản phẩm và các dịch vụ Sản phẩm có trách nhiệm - Quảng cáo - Tôn trọng sự riêng tư 5 - Nghiên cứu của Denis Goulet [11]: Cho rằng PTBV bao hàm 4 khía cạnh: kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa và một chiến lược phát triển đúng đắn sẽ hướng vào việc tăng trưởng kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra tập trung vào những nhu cầu cơ bản, tạo công ăn việc làm. - Nghiên cứu của Thaddeus c. Trzyna [48]: Cho ràng, PTBV đòi hỏi phải có sự xuyên suốt nhiều chuyên ngành, lĩnh vực, bộ môn,. và phải xem xét trong mối tương quan giữa các lĩnh vực sinh thái, kinh tể, xã hội hay nói cách khác, PTBV là một quá trình của xã hội, mà trước hết là một nguyên tắc đạo đức.
- Nghiên cứu của Carl-Johan Lindgren [59]: Khi nghiên cứu về phát triển bền vững NHTM thì cho rằng: Các NHTM được coi là lành mạnh hay phát triển bền vững khi khả năng tài chính và hoạt động ngân hàng đạt tới hiệu quả nhất định để có thể tồn tại, chịu đựng và chống đỡ các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài. Neu cho rằng QTDND là một trong nhũng loại hình TCTD cung cấp dịch vụ tài chỉnh vi mô, nếu coi QTDND là một loại hình của TCTCVM, thì đã có nhiều quan diêm về tính bền vững của TCTCVM: - Nghiên cứu của Pau R. Niven [40]: PTBV QTDND là sự phát triển và cân bằng của 4 nhóm yếu tổ cấu thành: Khách hàng; các quy trình nội bộ; đào tạo và nhân viên; và tài chính của tổ chức: i/ Khách hàng của QTDND chủ yếu là các thành viên sản xuất kinh doanh và sinh sống trong cùng một địa bàn, một lĩnh vực. QTDND cần duy trì mối quan hệ với thành viên cũ và thu hút thêm thành viên mới để ổn định và phát triển.
Để thực hiện được điều này phải đo lường được sự hài lòng của các thành viên thông qua các biến số: sổ lượng thành viên và mức tăng trưởng của thành viên tham gia vào QTDND, các sản phẩm dịch vụ thích ứng và tạo giá trị gia tăng cho thành viên, nâng cao giá trị thương hiệu của QTDND. Thẻ điểm cân bằng giúp mồi tổ chức trả lời 3 câu hỏi quan trọng về PTBV: Nhóm khách hàng mục tiêu của tổ chức là ai? Giá trị của tổ chức trong việc phục vụ khách hàng như thế nào? Xác định nhu cầu của khách hàng là gì để thỏa mãn nhu cầu, tạo được lòng trung thành của khách hàng? 6 ii/ Các quy trình nội bộ gồm: Chiến lược hoạt động, quy định về quản lý, điều hành, quản trị rủi ro,. đảm bảo phòng ngừa rủi ro, quản lý tài sản hiệu quả.