CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN 1. Khái quát về kinh tế tuần hoàn. Khái niệm về kinh tế tuần hoàn. Khái niệm KTTH (Circular Economy) lần đầu tiên được Pearce và Turner sử dụng chính thức, đề cập đến mô hình kinh tế dựa trên nguyên tắc cơ bản rằng “mọi thứ đều là đầu vào của một thứ khác”5.
Năm 2018, Ủy ban Châu Âu (EC) đã đưa ra một định nghĩa tổng quát về KTTH là “Duy trì giá trị của sản phẩm, vật liệu lâu nhất có thể trong nền kinh tế và hạn chế chất thải”. Năm 2020, Chương trình Môi trường Liên hợp Quốc (UNEP) cũng đưa ra một định nghĩa tương tự: “Circular Economy là nơi giá trị của sản phẩm, nguyên vật liệu và tài nguyên được duy trì trong nền kinh tế lâu nhất có thể và đồng thời giảm tối thiểu chất thải”6. Nền KTTH có thể được coi là một mô hình kinh tế vừa sản xuất vừa trao đổi, một mô hình kinh tế mới và nó khác hẳn với nền kinh tế truyền thống. Đây là một luồng tuyến tính một chiều, tức là “Tài nguyên - Sản phẩm - Chất thải” dựa trên việc khai thác và tiêu thụ tài nguyên với mức độ cao gây tổn hại đến môi trường nặng nề.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cảnh báo, ô nhiễm không khí tại Việt Nam có thể gây thiệt hại tương đương 60 nghìn ca tử vong, trong đó có 40% số ca liên quan đến sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với bệnh tim, đột quỵ, viêm đường hô hấp, ung thư phổi, tiểu đường… đến từ các chất gây ô nhiễm trong nông nghiệp (phân đạm, phân lân, thuốc bảo vệ thực vật và các hóa chất khác…), chất gây ô nhiễm trong chất thải công nghiệp (kim loại, a - xen và nhiều chất độc hại khác…). Những tính toán của World Bank cho thấy, nếu gộp lại toàn bộ những tổn hại về môi trường, thiệt hại ước tính ở mức từ 4 đến 8% GDP mỗi năm, do tác động tiêu cực trực tiếp đến vốn tự nhiên và ngoại ứng gián tiếp đến năng suất lao động, cũng như chất lượng của cơ sở hạ tầng7. Còn ở mô hình KTTH có đặc điểm tiêu thụ vật liệu và tài nguyên thấp trong quá trình sản xuất, mức độ ô nhiễm thấp, hiệu quả và tỷ lệ tuần hoàn cao, nó cho phép tài nguyên được tận dụng đầy đủ trong quá trình sản xuất.
Nhờ đó, các tác động tiêu cực từ hoạt động kinh tế đối với thiên nhiên sẽ được 5 Pearce, D. Economics of natural resources and the environment. Baltimore: Johns Hopkins University Press. 6 Le Hai Duong, Do Tien Dung (2022), Experience in Developing and perfecting circular economy legislation in some countries around the world and recommendations for Viet Nam, Viet Nam Circular Economy: https://vietnamcirculareconomy.vn/kinh-nghiem-xay-dung-hoan-thien-phap-luat-ve-kinh-te-tuan-hoan-o-mot-so- nuoc-tren-the-gioi-va-de-xuat-cho-viet-nam/?lang=en 7 Bùi Bích Thủy (2021).
Tăng trưởng kinh tế với bài học môi trường. Tạp chí con số & sự kiện. Từ https://consosukien.vn/tang-truong-kinh-te-voi-bai-hoc-moi-truong.htm 9 giảm tối đa8. Tại Trung Quốc, Luật Xúc tiến KTTH đã định nghĩa: "KTTH là một thuật ngữ chung cho các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế được tiến hành trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng” (CCICED, 2008)9.
Thuật ngữ “giảm thiểu” chỉ việc giảm tiêu thụ tài nguyên và phát sinh chất thải trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Tiếp đến, "tái sử dụng" đề cập đến việc sử dụng chất thải trực tiếp như một sản phẩm hoặc tiếp tục sử dụng nó như một sản phẩm sau khi sửa chữa, cải tạo hoặc tái sản xuất hoặc sử dụng toàn bộ hoặc một phần chất thải làm thành phần của các sản phẩm khác. Cuối cùng, “tái chế” đề cập đến việc sử dụng trực tiếp chất thải làm nguyên liệu thô hoặc tái chế chất thải. Tại Việt Nam, định nghĩa KTTH lại tập trung nhiều hơn vào giảm thiểu chất thải.
Trong Điều 142 Luật BVMT năm 2020 có quy định về KTTH được xác định “Là mô hình kinh tế, trong đó có các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường”10. Điều này giúp ta hiểu rằng đầu ra của sản phẩm này chính là đầu vào của sản phẩm khác, việc tận dụng lại nguyên liệu từ sản phẩm cũ giúp tránh lãng phí tài nguyên thiên nhiên đồng thời giảm thiểu rác thải vào môi trường. Nhìn chung, định nghĩa về KTTH khá thống nhất, bao gồm các nội dung chính đó là: (1) KTTH được xây dựng trên nguyên tắc tái sinh và phục hồi; (2) KTTH không chỉ là xử lý chất thải mà còn là “thiết kế chất thải” thậm chí còn không có khái niệm về chất thải trong KTTH; (3) KTTH không chỉ là vấn đề tuần hoàn vật liệu mà còn là giảm thiểu việc sử dụng các vật liệu khó tái tuần hoàn (Hóa chất độc hại, rác thải khó tái chế, mảnh thủy tinh…); (4) KTTH vừa là mục tiêu, vừa là cách tiếp cận con đường hướng tới phát triển bền vững. Đặc điểm của hoạt động kinh tế tuần hoàn.
Hiện nay, có nhiều nước đã ban hành các văn bản pháp luật, nghị định, thông tư 8 Nguyễn Thu Hương (2023). KTTH trong nông nghiệp tại Việt Nam - thực trạng và khuyến nghị. Tạp Chí điện tử Khoa học Và Công nghệ Giao thông. Từ https://jstt.php/vn/article/view/167/108 9 Chính Phủ, Luật Khuyến khích KTTH nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2008, Điều 2 10 Quốc hội, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Điều 142 10 về KTTH.
Chính vì thế, nội dung về các quy định KTTH cũng rõ ràng và chi tiết hơn. Tại Hà Lan, năm 1970, “Thang Lansink” quy định thứ tự ưu tiên trong quản lý chất thải, ưu tiên ngăn ngừa và hạn chế phát sinh chất thải, thúc đẩy tái sử dụng và tái chế, sau đó là việc xử lý rác bằng phương pháp đốt trước khi áp dụng biện pháp cuối cùng là chôn lấp. Năm 2013, Hà Lan đã triển khai một loạt chương trình và dự án nhằm biến nước này trở thành “trung tâm tuần hoàn” của châu Âu. Đặc biệt, chương trình “KTTH tại Hà Lan đến năm 2050” đưa ra những tầm nhìn, định hướng lộ trình và cả các mục tiêu rất cụ thể của quốc gia này.
Theo đó, năm lĩnh vực ưu tiên là: “Nhiên liệu sinh khối và thực phẩm, nhựa, chế tạo (tập trung vào vật liệu kim loại và các hóa chất độc hại), xây dựng (tập trung vào tái chế vật liệu xây dựng và phát triển thị trường vật liệu tái chế) và tiêu dùng”. Bên cạnh đó, cách thực hiện KTTH của Hà Lan được đánh giá là “từ dưới lên” (bottom up)11. Ngoài ra, Chính phủ Hà Lan cũng hỗ trợ nhiều về luật pháp để thúc đẩy phát triển nền KTTH. Đánh thuế sử dụng năng lượng hóa thạch ở giai đoạn đầu của chuỗi sản xuất để tránh tình trạng khai thác tài nguyên quá mức giúp ngăn ngừa thiệt hại về môi trường.
Điều này cũng đã được Chính phủ Việt Nam áp dụng, có thể thấy, xăng là nhiên liệu đầu vào cho nhiều ngành sản xuất nên việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng là rất cần thiết nhằm hướng tới một nền kinh tế bền vững. Theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 200812, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng thông thường là 10%, điều này là phù hợp với mục tiêu thu thuế tiêu thụ đặc biệt, phù hợp với thông lệ quốc tế và là mức thấp so với các nước trên thế giới, bao gồm cả các nước trong khu vực ASEAN. Nền KTTH chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo, loại bỏ các hóa chất độc hại và chất thải gây suy giảm khả năng tái sử dụng thông qua thiết kế ưu việt của vật liệu, sản phẩm, hệ thống. Tuy nhiên việc áp dụng KTTH cũng cần tuân theo các nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc 3R (reduce, reuse, recycle) và nguyên tắc ưu tiên giảm chất thải.
Giảm (reduce) là giảm lượng nguồn tài nguyên và vật liệu khan hiếm hoặc không tái tạo được và giảm sản lượng chất thải trong suốt vòng đời của sản phẩm. Tái sử dụng (reuse) đề cập đến việc sử dụng lại tài nguyên hoặc sản phẩm nhiều lần trong quá trình sử dụng ban đầu. Tái chế (recycle) đề cập đến việc chuyển đổi sản phẩm sau khi hoàn thành chức năng của nó thành tài nguyên có thể tái sử dụng thay vì trở thành rác không có giá trị. Nguyên tắc ưu tiên giảm chất thải yêu cầu tránh lãng phí trong quá trình sản 11 Innovation for Sustainable Development Network (2018), "Can public procurement in cities support circular economy and sustainability transition? " in "Policy Outlook Series", The Hague, The Netherlands, https://www.net/uploads/orig inals/1/inno4sd-outlook-6-2018.pdf/ 12 Quốc Hội, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008, Điều 7 11 xuất là mục tiêu ưu tiên của hoạt động kinh tế13.
Thực hiện KTTH là giải pháp quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, cải thiện năng suất lao động, tạo ra các chuỗi giá trị hiệu quả cao, hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế với BVMT, góp phần thực hiện các cam kết về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học… Và để có một nền KTTH bền vững thì cần phải đáp ứng được 5 tiêu chí: Thứ nhất, hoạt động sản xuất và tiêu dùng nên chuyển đổi sang sử dụng năng lượng tái tạo xanh. Đây là một trong số những thành phần chính của kế hoạch tại không ít quốc gia trong việc giảm thiểu chất thải carbon. KTTH hướng tới việc tăng trưởng kinh tế thông qua việc cắt giảm và tuần hoàn các nguồn tài nguyên. Điều này đáp ứng được hai mục tiêu là giảm thiểu ô nhiễm môi trường và đối phó với cạn kiệt tài nguyên đầu vào.
Thứ hai, giảm thiểu việc tiêu thụ nguyên liệu và lựa chọn các vật liệu có nhiều khả năng sử dụng. Khác với việc khai thác nguyên liệu theo mô hình kinh tế truyền thống, KTTH tiết kiệm nguyên liệu hơn. Nó tập trung vào việc kéo dài chu kỳ của nguyên liệu, cuối kỳ của sản phẩm này là đầu vào của sản phẩm khác. Thứ ba, sử dụng vật liệu đóng gói và bao bì có khả năng tái chế và đơn giản hóa quy trình đóng gói.
Sử dụng các loại bao bì đa dạng hóa cho nhiều sản phẩm cũng có thể giúp giảm thiểu được một lượng lớn nguyên liệu, góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất. Thứ tư, giảm thiểu tiến tới loại bỏ các chất thải công nghiệp khác nhau và tái chế chúng một cách toàn diện. Đây là quá trình nhằm giảm tác động xấu đến môi trường, tạo ra khả năng phục hồi. Việc phát triển KTTH có thể giảm một nửa lượng khí thải carbon từ công nghiệp vào năm 2030, so với mức 201814.