CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE LAO DONG CHUA THÀNH NIÊN VÀ THUC TRẠNG PHÁP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE LAO DONG CHUA THANH NIEN 1.1 Những vấn dé lý luận về lao động chưa thành niên 1.1 Lao động chưa thành niên 1.1 Khái niệm lao động chưa thành niên Trên thế giới hiện chưa có khái niệm thống nhất về “lao động chưa thành niên”. Các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), không sử dụng thuật ngữ “lao động chưa thành niên” mà đưa ra khái niệm “lao động trẻ em”. Theo định nghĩa cua (ILO): “LDTE là công việc khiến trẻ em mat đi tuổi thơ, tiém năng và nhân cách, và có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển về thé chất và tinh than của trẻ, bao gồm cả việc cản trở khả năng đến trường ”°. Tit khi thành lập đến nay, ILO đã thông qua gần 200 công ước, với gần 30 công ước có nội dung về lao động trẻ em, trong đó có hai công ước cơ bản để cập trực tiếp và mang tính bao quát về vấn đề LĐTE là Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tôi tệ nhất (1999) và Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu (1973).
Độ tuổi 18 là cột mốc được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia sử dụng là cơ sở để xác định về người chưa thành niên trên cơ sở đó xác định những loại hình lao động phù hợp cho từng nhóm lao động. Cụ thể, tại bản quy ước của Liên hợp quốc về bảo vệ lao động chưa thành niên bị tước đoạt tự do (14/12/1990) quy định: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, trong một số lĩnh vực và hoàn cảnh nhất định, khái niệm “Người chưa thành niên” và “trẻ em” có thé thống nhất về mặt nội ham va được pháp luật quốc tế cũng như quốc gia sử dụng. Cụ thể tại Điều 1 Công ước của Liên Hợp quốc về quyển trẻ em (20/11/1989) đưa ra khái niệm: “Trẻ em nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sim”.
? Tổ chức lao động quốc tế (ILO) — Công ước số 182 (1999) 10 Việc quy định khái niệm “người chưa thành niên" và “trẻ em" về tuôi thành niên là quy định mang tính chất mở, các quốc gia có thé quy định tuôi thành niên sớm hơn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó và tình trạng phát triển, thể chất của người công dân mỗi nước. Quy định của Liên hợp quốc chỉ quy định mức tuôi tối đa, do đó các quy định về độ tuổi của trẻ em dưới khung này vẫn được các tổ chức khác quy định và thừa nhận. Hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam đang ghi nhận cả hai thuật ngữ “trẻ em” và “người chưa thành niên”. Theo Điều 1 Luật trẻ em 2016 thì “trẻ em là người dưới 16 tuổi””.
sã Còn theo Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”". Bên cạnh đó, pháp luật lao động của nước ta cũng không có khái niệm “lao động trẻ em” như trong các văn bản quốc tế. Tuy nhiên, dựa vào những đặc điểm của LĐCTN và độ tuổi lao động trẻ em mà tô chức Lao động quốc tế (ILO) quy định, ta có thé xem lao động trẻ em là một phan nhóm tuổi của lao động chưa thành niên. Như vậy, khái niệm “trẻ em” và “lao động trẻ em” trong pháp luật Việt Nam là không hoàn toàn đồng nhất với quy định của Công ước Liên hợp quốc về quyên trẻ em và tổ chức Lao động quốc tế (ILO).
Từ những đặc điểm của người lao động và quy định pháp luật về LĐCTN ta có thể đưa ra khái niệm về LĐCTN như sau: “người lao động chưa du 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự chưa đây đủ và được phép tham gia lao động nhưng phải tuân theo quy định của pháp luật”.2 Đặc điểm của lao động chưa thành niên Thứ nhất: Lao động chia thành niên là nhóm tuổi lao động chưa hoàn thiện về tâm ly và thé chất. Lao động chưa thành niên là những người lao động trong nhóm độ tuôi dưới 18 tuổi. Ở nhóm độ tuổi này các em có sự phát triển đột biến về thé chat, thay đổi về ngoại hình, và đang trong quá trình hoàn thiện về thể trạng, biểu hiện ở việc sự 3 Điều 1 Luật trẻ em 2016 * Luật dân sự 2015 11 thay đổi nhanh chóng về chiều cao, cân nặng, cơ bắp phát triển mạnh, sự hoàn thiện các giác quan. Khác với độ tuổi lao động thành niên, LDCTN chưa ổn định về mặt sinh lý.
Cùng với sự thay đổi về mặt sinh học, trí tuệ và tâm sinh lý ở độ tuổi CTN cũng có nhiều biến động rõ rệt hơn so với thành niên. Tăng dần theo độ tuổi, biểu hiện tâm lý càng rõ rệt hơn và khá phức tạp, thường có biểu hiện rõ nét nhất về sự tự ý thức về cá tính của mình và hình thành nên nhân cách, muốn thể hiện “cái tôi” và nhầm tưởng rằng mình đã là người lớn, việc sinh hoạt, giao tiếp với xã hội cũng được mở rộng và mang tính độc lập hơn, không chịu sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ từ gia đình như trước. Ở nhóm tuổi nay, NCTN nếu phải lao động trong điều kiện khắc nghiệt, môi trường nguy hiểm, độc hại hoặc phải tiếp xúc thường xuyên với các môi trường không lành mạnh, dé xảy ra các tệ nạn xã hội: Quan bar, quán bia, rượu, quán Karaoke thì sẽ rất hệ lụy đến tương lai của các em, ảnh hưởng tiêu cực về lâu về dài đến sự phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần của các em. Chính vì vậy, nhóm tuổi này chưa thé tham gia đầy đủ vào các quan hệ lao động của đời sống xã hội.
Thứ hai: Lao động chưa thành miên là người có năng lực hành vi dan sự chua đầy di. Độ tuổi CTN như đã phân tích ở trên, về mặt tâm sinh lý đang trong quá trình phát triển, bản thân các em chưa đủ khả năng dé tự mình quyết định cũng như chịu trách nhiệm vẻ hành vi của mình. Do đó lao động chưa thành niên không thể tự mình tham gia vào việc xác lập quan hệ lao động (cụ thé là ký kết hợp đồng lao động). Tùy từng trường hợp và phụ thuộc vào mục đích, việc giao kết hợp đồng của nhóm LDCTN với NSDLD được chia thành 2 nhóm: Trường hợp 1: Người sử dụng lao động khi muốn giao kết hợp đồng lao động với người chưa thành niên thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của bố, mẹ hoặc người giám hộ.
Như vậy, sự đồng ý của bố mẹ vẫn đóng vai trò quan trọng và là tiền đề để hợp đồng có hiệu lực 12 Trường hợp 2: Người sử đụng lao động ký kết hợp đồng lao động trực tiếp với cha, mẹ hoặc người giám hộ của NLĐCTN. Ở trường hợp này NLĐCTN đóng vai trò là người thông qua. Quá trình người giám hộ đóng vai trò chứng kiến và thông qua việc giao kết hợp đồng lao động giữa NLĐCTN và NSDLD góp phan vào bảo vệ tối đa cho quyền lợi NLDCTN do sự phát triển chưa day đủ về thé chất, tinh thần của nhóm lao động vẫn còn non nớt và dé bị lợi dụng. Thứ ba: Lao động chưa thành niên chưa có đầy đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm Trong độ tuổi này, người CTN vẫn đang trong quá trình đi học và bồi dưỡng kiến thức trên ghế nhà trường.
Việc đảm bảo về trình độ học vấn cũng như trình độ văn hóa là rất quan trọng trong việc phát triển về hệ tư duy, suy nghĩ và định hướng chuyên môn sau này của các em. Kiến thức từ việc học tập là nền tang vững chắc dé vận dụng vào thực tế, vào những công việc chuyên môn sau này. Bên cạnh đó, ở độ tuôi nay hầu hết các em chưa tiếp xúc nhiều với các công việc thực tế bên ngoài xã hội nên không có kinh nghiệm cụ thể trong một lĩnh vực nào. Vì thế khi trẻ tham gia vào thị trường lao động ở độ tuổi này thường có trình độ chuyên môn chưa cao và chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm.2 Pháp luật lao động về lao động chưa thành niên Pháp luật là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo lập một trật tự xã hội theo ý chỉ của Nhà nước.
Diéu chỉnh pháp luật với mục đích đảm bảo về mặt pháp lý cho quyền con người và quyền công dân được thực hiện. Pháp luật lao động nói chung và pháp luật lao động đối với lao động chưa thành niên nói riêng đều có những điều chỉnh pháp luật được học hỏi và tích lũy cũng như cần có cơ chế thực thi pháp luật dé phù hợp với thực tế.1 Mục dich, ý nghĩa của các quy định pháp luật lao động về lao động chua thành niên Dù cuộc sống xã hội ngày nay đã có nhiều sự thay đổi và phát triển hơn trước nhưng khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch về kinh tế vẫn còn rất lớn. Xuất phát 13 từ hoàn cảnh kinh tế của nhiều gia đình và nhận thức còn hạn chế của bậc cha mẹ phụ huynh các em, những bat cập về tinh trang LDCTN van đang diễn ra hàng ngày hàng giờ và đe dọa đến quá trình phát triển về thé chất và tinh than của NCTN. Pháp luật về LĐCTN là cấp thiết, đóng vai trò thiết lập hành lang pháp lý nhằm bảo vệ lực lượng lao động tương lai của đất nước.
Có 3 nguyên nhân chính cấp thiết dé xây đựng hành lang pháp lý về LĐCTN: Thit nhất, xây dựng khung pháp luật LDCTN là điều bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích của NCTN. Về bản chất, nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo và tôn trọng quyền lao động của người CTN. Bên cạnh việc bảo vệ quyền và lợi ich của LDCTN, pháp luật còn ưu tiên sự phát triển cá nhân, phúc lợi và phát triển tâm lý của những người trẻ này. Nhận thấy rằng lao động chưa đủ tuổi vẫn dang trong quá trình trưởng thành về thé chất và tinh thần và thường dé bị tổn thương trong xã hội, nên đã có các quy định cụ thể để bảo vệ lợi ích của họ.
Hơn nữa, những lao động trẻ này được hưởng mức lương công bằng, chăm sóc sức khỏe toàn diện và cơ hội giáo dục trong suốt thời gian làm việc. Thứ hai, Pháp luật liên quan đến việc sử dụng NCTN sẽ được thắt chặt và áp dụng một số chế tài trong việc xử ly vi phạm về việc sử đụng LDCTN trái quy định của pháp luật.