MỞ ĐẦU Đất ngập nước là "Những vùng đầm lầy, vùng lầy, vùng than bùn hay vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời với nước tĩnh hay chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, bao gồm các khu vực nước biển có độ sâu không quá 6 m so với triều kiệt” [142]. Đây là nơi tập trung cao về các loài chim, động vật có vú, các loài bò sát, lưỡng cư, cá và động vật không xương sống, là kho lưu trữ vật liệu gen thực vật quan trọng. Sự tương tác của các yếu tố vật lý, sinh học, hóa học của đất ngập nước như là một phần “cơ sở hạ tầng tự nhiên” của Trái đất để thực hiện các chức năng cần thiết cho sự sống như trữ nước, chắn bão, giảm nhẹ lũ lụt, ổn định đới bờ và kiểm soát xói mòn, cung cấp và dự trữ nước ngầm, lọc nước, giữ lại các chất dinh dưỡng, trầm tích và các chất gây ô nhiễm cũng như điều hòa khí hậu địa phương, đặc biệt là lượng mưa và nhiệt độ. Với diện tích khoảng 12 triệu ha [73], đất ngập nước ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.; cung cấp các dịch vụ sinh thái, có giá trị cao về mặt kinh tế, đáp ứng nhiều giá trị về mặt xã hội như giải trí, tinh thần, thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, trong thời gian qua mức độ đa dạng sinh học, các chức năng của nhiều hệ sinh thái đất ngập nước bị suy thoái nghiêm trọng chủ yếu gây ra bởi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội như thay đổi chế độ canh tác, chặt phá rừng ngập mặn, đốt rừng, khai thác thuỷ sản bằng phương pháp huỷ diệt, sự khai thác quá mức do áp lực tăng dân số, đói nghèo, ô nhiễm môi trường hay sự du nhập của các loài ngoại lai. Với thực trạng này, việc điều tra cơ bản, nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường, tính đa dạng sinh học, lập bản đồ các hệ sinh thái bị suy thoái, đề xuất các giải pháp bảo tồn, phục hồi, sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật… là hết sức cần thiết. Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật chưa quy định về công tác thành lập bản đồ các hệ sinh thái, cụ thể hơn là bản đồ hệ sinh thái đất ngập nước. Gần đây nhất, Nghị định 66/2019/NĐ-CP về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước [30] mới chỉ đề cập đến khái niệm hệ sinh thái đất ngập mà chưa có quy định về quy trình cũng như phương pháp thành lập bản đồ hệ sinh thái đất ngập nước.
Các công trình nghiên cứu, dự án điều tra thành lập bản đồ phân loại đất ngập nước từ trước đến nay ở nước ta chủ yếu dựa trên yếu tố nước và lớp phủ bề mặt là chính; không chỉ ra được các đặc điểm nguồn gốc hình thành và các điều kiện tác động lên các hệ sinh thái trong vùng đất ngập nước như yếu tố nền tảng rắn, nguồn 8 n gốc phát sinh, chất đất, độ cao, khí hậu, thuỷ văn, hải văn… Đây là các yếu tố cơ bản hình thành nên các hệ sinh thái nói chung, hệ sinh thái đất ngập nước nói riêng. Cách tiếp cận sinh thái cảnh quan đã được nghiên cứu, ứng dụng nhiều trên thế giới và ở Việt Nam trong nhiều công trình, bước đầu đã có những nghiên cứu riêng lẻ cho một số hệ sinh thái đất ngập nước cụ thể. Các yếu tố cơ bản hình thành nên cảnh quan cũng tương đồng với các yếu tố hình thành nên hệ sinh thái. Chính vì vậy, vận dụng kiến thức phân tích cảnh quan vào xác định ranh giới hệ sinh thái đất ngập nước cũng là một cách tiếp cận cần được nghiên cứu.
Luật Quy hoạch 2017 [89] và Nghị định số 37/2019/NĐ-CP [29] quy định trong quá trình xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia cần phải đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường, cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học, các vùng đất ngập nước quan trọng; xác định các khu vực cần phải bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, xây dựng tiêu chí và xác định danh mục dự án quan trọng quốc gia, dự án ưu tiên đầu tư bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và đề xuất thứ tự ưu tiên thực hiện. Tuy nhiên, những văn bản pháp luật trước đây, gần nhất là Luật bảo vệ môi trường 2020 [90] và Nghị định 08/2022/NĐ-CP [31] hiện vẫn chưa có quy định về vấn đề này. Chính vì vậy, nghiên cứu tiêu chí xác định, xếp hạng dự án ưu tiên đầu tư bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và các dự án bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước nói riêng là rất cần thiết. Hiện nay cũng chưa có các nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về mục tiêu cần được ưu tiên và tiêu chí đánh giá, xếp hạng đối với các hệ sinh thái đất ngập nước cần bảo vệ, phục hồi.
Đánh giá đa tiêu chí là phương pháp phổ biến thường được áp dụng rộng rãi trong các bài toán ra quyết định ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Các phương pháp đánh giá đa tiêu chí đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Do đó, hướng tiếp cận tiếp theo cần phải nghiên cứu là kết hợp các phương pháp phân tích đa tiêu chí có các điểm mạnh, yếu bổ sung cho nhau, đặc biệt là kết hợp với GIS tạo thành hệ hỗ trợ ra quyết định không gian để giải quyết các bài toán đối với các vùng đất ngập nước. Viễn thám ngày càng phát triển và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực, trong đó có nhiều nghiên cứu về các vùng đất ngập nước, hỗ trợ trích xuất nhiều thông tin về lớp phủ, các điều kiện tự nhiên, chất lượng môi trường, các yếu tố về khí hậu, khí tượng… Đây là một trong những đầu vào cho các hệ thống GIS tích hợp, phân tích, làm giàu dữ liệu và để giải quyết các bài toán về không gian đặt ra cũng như 9 n trình bày, xuất bản bản đồ về các vùng đất ngập nước.
Đồng Tháp Mười là một đồng lụt kín, một trong số các hệ sinh thái có diện tích ngập nước khá lớn và có tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam trải dài trên 3 tỉnh là Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp, với khoảng 671.000 ha, có khả năng trữ trên 100 tỷ m3 nước, có hệ sinh thái điển hình rừng lau, sậy ngập nước, với hai khu Ramsar là vườn quốc gia Tràm Chim - Đồng Tháp, khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen - Long An. Ngoài ra, còn có khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười, khu bảo tồn đa dạng sinh học như khu di tích Xẻo Quýt, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng… Đây là khu vực trú ngụ của rất nhiều loài chim, cá, bò sát, động vật đáy, trong đó có rất nhiều loài loài đặc hữu, quý hiếm… nằm trong danh sách các loài cần được bảo vệ, có nguy cơ tuyệt chủng. Đất ngập nước khu vực này đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như hạn hán, xâm nhập mặn, cháy rừng, nước biển dâng, sự xâm nhập của các loài ngoại lai… do các hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển công nghiệp, du lịch dịch vụ của con người và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Do vậy, đây là khu vực điển hình cho việc nghiên cứu, đánh giá, xếp hạng mức độ ưu tiên bảo vệ, phục hồi, làm cơ sở cho việc quy hoạch, lên kế hoạch phân bổ nguồn lực và ra các quyết định chính sách phù hợp, hiệu quả.
Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phân vùng ưu tiên bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước dựa trên phương pháp phân vùng cảnh quan và ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS” là hết sức cần thiết để đề xuất được cơ sở khoa học và quy trình phục vụ triển khai công tác thành lập bản đồ phân vùng ưu tiên bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước. Mục tiêu của luận án Xác lập được cơ sở khoa học phân vùng ưu tiên bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước dựa trên tiếp cận cảnh quan, ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các hệ sinh thái đất ngập nước và công nghệ viễn thám, GIS trong nghiên cứu hệ sinh thái đất ngập nước. - Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi khoa học: hệ sinh thái đất ngập nước nói chung (ven biển, nội địa) và công nghệ viễn thám, GIS trong nghiên cứu hệ sinh thái đất ngập nước.
10 n + Phạm vi không gian: hệ sinh thái đất ngập nước toàn quốc, mà điển hình là hệ sinh thái đất ngập nước nội địa đặc trưng của 08 khu vực đất ngập nước Đồng Tháp Mười là: 1) Vườn quốc gia Tràm Chim; 2) Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen; 3) Khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười; 4) Khu di tích Xẻo Quýt; 5) Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng; 6) Khu bảo tồn Cây dược liệu Đồng Tháp Mười; 7) Làng nổi Tân Lập; 8) Khu sinh thái Đồng Sen Gò Tháp. + Phạm vi thời gian: giai đoạn 2010-2018. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu: được sử dụng để thu thập, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường và các áp lực tác động lên các vùng đất ngập nước; tổng hợp, xử lý quy đổi giá trị dịch vụ hệ sinh thái về du lịch ở các thời điểm khác nhau về năm 2018… - Phương pháp phỏng vấn: được sử dụng để phỏng vấn sâu người dân, cán bộ làm việc và quản lý tại địa phương, các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường, đa dạng sinh học nhằm xác định mục tiêu, tiêu chí đánh giá mức độ ưu tiên bảo vệ, phục hồi của khu vực nghiên cứu đối với các bên liên quan; kiểm chứng kết quả xếp hạng và thành lập bản đồ. - Phương pháp đối sánh: sử dụng để đối sánh kết quả trong phòng với thực địa để kiểm tra, xác định kết quả phân loại cảnh quan, thông tin thực phủ, loại đất ngập nước… - Phương pháp phân tích đa tiêu chí: dùng để xác định trọng số của các tiêu chí trong phương pháp AHP và đánh giá, xếp hạng thứ bậc ưu tiên bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước bằng phương pháp TOPSIS.