CHƯƠNG I TỔNG QUAN HVTH: Phan Hồng Phương 4 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. SƠ LƯỢC VỀ PHẢN ỨNG DEHYDRO HOÁ ĐÓNG VÒNG N- HEPTANE Phản ứng dehydro hoá đóng vòng n-paraffin là một trong những chuyển hoá hoá học quan trọng trong công nghiệp dầu khí nhằm biến các hydrocacbon có chỉ số octane thấp thành các cấu tử có chỉ số octane cao cần thiết cho xăng như hydrocacbon vòng và hydrocacbon thơm. Đặc điểm nhiệt động phản ứng dehydro hóa-đóng vòng Bên cạnh toluene (RON=124), một số sản phẩm vòng no có thể được tạo thành trong quá trình phản ứng dehydro hóa-đóng vòng n-heptane như: octane number (RON) cycloheptane 39 n-heptane methylcyclohexane 74,8 RON = 0 1,1-dimethylcyclopentane 92,3 ethylcyclopentane 67 Nhiệt phản ứng của một số phản ứng chính trong quá trình reforming n-paraffin được nêu trong bảng 1. Dehydro hoá đóng vòng n-paraffin là các phản ứng thu nhiệt mạnh, dehydro hóa n-paraffin là phản ứng thu nhiệt vừa phải, còn phản ứng đồng phân hóa n-paraffin toả nhiệt nhẹ.
Hai phản ứng đầu có sự gia tăng số phân tử trong sản phẩm phản ứng (do hình thành H2), nên xảy ra thuận lợi ở nhiệt độ cao và áp suất riêng phần của hydro thấp. Tuy vậy, nhiệt độ phản ứng cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phản ứng cracking HVTH: Phan Hồng Phương 5 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. Lưu Cẩm Lộc n-paraffin nói chung và n-heptane nói riêng. Các yếu tố này cho thấy rằng, quá trình dehydro hóa đóng vòng n-heptane sẽ đạt hiệu suất cao khi được tiến hành trong điều kiện áp suất thấp và nhiệt độ cao nhất có thể.
Tuy nhiên, ở bất kì điều kiện khảo sát nào thì bên cạnh sản phẩm mong muốn là toluene, n-heptane cũng chuyển hóa một phần thành các sản phẩm xicloankan. Vì thế, để tăng độ chuyển hóa và hiệu suất của phản ứng, người ta sử dụng quá trình hồi lưu các n-heptane chưa chuyển hóa và các sản phẩm xicloankan có chỉ số octane thấp.2 Hiệu ứng nhiệt của một số phản ứng [5] STT Phản ứng ∆H (kcal/mol) 1 Dehydro hoá n-paraffin 31.5 2 Dehydro hoá đóng vòng n-paraffin 63.6 3 Đồng phân hoá n-paraffin -1 ÷ -5 4 Hydrocracking -10 Bên cạnh việc lựa chọn nhiệt độ thích hợp, hiệu suất phản ứng sẽ tăng khi áp suất riêng phần của H2 giảm. Tuy nhiên, trong điều kiện này, chất xúc tác nhanh chóng bị mất hoạt tính do dễ hình thành cốc trên bề mặt xúc tác do sự ngưng kết của các olefin và hydrocacbon mạch vòng không no trên bề mặt xúc tác. Ảnh hưởng của nhiệt độ và áp suất đến cân bằng nhiệt động giữa paraffin và aromatic đối với n-C7 được biểu diễn trên hình 1.1 chúng ta thấy, nếu tăng áp suất H2 lên quá cao (30 bar) sẽ làm giảm hàm lượng các hydrocacbon thơm tạo thành.
Bên cạnh đó, ngoài các xicloankan hay hydrocacbon thơm, sản phẩm cuối cùng của phản ứng còn chứa các hydrocacbon mạch ngắn từ phản ứng cracking. Để định hướng phản ứng tạo thành những sản phẩm mong muốn, trong đề tài này là toluene, HVTH: Phan Hồng Phương 6 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. Lưu Cẩm Lộc việc lựa chọn và nghiên cứu hệ xúc tác cũng như điều kiện phản ứng thích hợp là rất cần thiết.1 Ảnh hưởng của áp suất đến cân bằng nhiệt động giữa paraffin và aromatic[5] 1. Các phản ứng chính trong quá trình dehydro hoá đóng vòng Trong điều kiện phản ứng (nhiệt độ, áp suất, lưu lượng dòng…), với sự có mặt của chất xúc tác, trong quá trình dehydro hoá đóng vòng n-paraffin có thể xảy ra những phản ứng chính sau: Dehydro hoá đóng vòng n-paraffin thành hydrocacbon vòng: CH3 CH3 M A CH3 nC 7H 16 -H 2 nC7H 14 CH3 + + M CH3 + 3H2 Trong quá trình này, phản ứng dehydro hoá đóng vòng có thể xảy ra theo nhiều hướng khác nhau tạo hydrocacbon vòng no, không no hay vòng thơm.
Tuy nhiên, sản phẩm cuối của quá trình vẫn chủ yếu là hydrocacbon vòng thơm. Các hợp chất vòng khác được tạo thành hầu như đóng vai trò trung gian để tạo hydrocacbon thơm. HVTH: Phan Hồng Phương 7 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. Lưu Cẩm Lộc Phản ứng dehydro hoá: n-paraffin thực hiện phản ứng dehydro hoá trên tâm kim loại Pt tạo thành các olefin.
Pt H 3C CH 3 H 3C CH 2 Phản ứng cracking: Nhiệt độ phản ứng, độ axit của xúc tác và độ dài mạch cacbon là những yếu tố quyết định tốc độ phản ứng cracking. Sản phẩm của phản ứng cracking có thể tiếp tục được đồng phân hoá, tạo nên các iso-paraffin có khối lượng phân tử nhỏ hơn n-paraffin ban đầu. Đồng phân hoá n-paraffin thành iso-paraffin: axit CH 3 - C H-CH 2 -CH 2 -CH 2 -CH3 CH 3 -(CH 2 )5 -CH 3 CH3 Qúa trình cốc hoá: Quá trình ngưng kết các hydrocacbon thơm đa vòng (sinh ra từ các quá trình alkyl hóa và đóng vòng) tạo các sản phẩm rắn giàu cacbon, có thể che phủ lên xúc tác. Quá trình này thuận lợi ở nhiệt độ cao và áp suất thấp.
Cơ chế và động học phản ứng Các phản ứng chính xảy ra trong quá trình dehydro hoá đóng vòng n-paraffin trên xúc tác lưỡng chức năng được mô tả một cách tổng quát trong hình 1. Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ và áp suất đến tốc độ các phản ứng không mong muốn là cốc hóa và cracking, người ta nhận thấy: Tốc độ hình thành cốc giảm khi tăng áp suất H2 và giảm nhiệt độ phản ứng. Tốc độ cracking giảm khi giảm áp suất H2 và giảm nhiệt độ phản ứng. HVTH: Phan Hồng Phương 8 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS.
Lưu Cẩm Lộc P: paraffin AR: aromatic O: anken DO: ankadien TO: ankatrien N5: napthen-xiclopentane N6: napthen-xiclohexane NO5: napthen-xiclopenten NO6: napthen-xiclohexen Hình 1. 2 Các hướng phản ứng chính để chuyển hoá thành aromatic Mặt khác, như ở phần nhiệt động học đã nêu, việc tăng áp suất hoặc làm giảm nhiệt độ đều ảnh hưởng không thuận lợi đến quá trình chính tạo các sản phẩm thơm. Vì vậy, trong thực tế người ta cần có sự lựa chọn các thông số vận hành tối ưu để thỏa mãn cả 2 yếu tố nhiệt động học và động học, nghĩa là bảo đảm cho hiệu suất các phản ứng thơm hóa cao đồng thời hạn chế các sản phẩm cracking và cốc hóa. Mô hình động học của phản ứng chuyển hóa n-heptane theo Krane et al.
[6] được mô tả trong hình 1. Clem [7] đã đề xuất sơ đồ phản ứng làm cơ sở cho mô hình động học của phản ứng reforming n-heptane trên xúc tác Pt-Re/Al2O3 và Pt/Al2O3 (xem hình 1. HVTH: Phan Hồng Phương 9 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. Lưu Cẩm Lộc Hình 1.
3 Mô hình động học của phản ứng chuyển hoá n-heptane theo Krane et al.[6] nC 7 - C6 MH Toluen DMP Hình 1. 4 Mô hình phản ứng theo Clem [7]; C-6, sản phẩm cracking; DMP, dimetylpentane+3-etylpentane; MH, metylhexane; nC7, n-heptane Trong hình 1.Liu et al. [7] đã bỏ qua phân đoạn hydrocacbon C8 và biểu diễn sơ đồ phản ứng của phân đoạn hydrocacbon C7. 5 Mô hình phản ứng theo K.Liu et al.[7]: A, hydrocacbon thơm; C-5, sản phẩm cracking; C5N6, metylxiclopentane; C6N6, xiclohexane; P, paraffin.
Từ các công bố nghiên cứu nói trên, người ta thấy rằng có sự khác biệt đáng kể giữa các sơ đồ phản ứng dehydro hóa đóng vòng nC7 được công bố. Mô hình của Clem [7] đã đề cập trước đây gồm 14 phản ứng, bởi vì nó cho phép gần như tất cả các HVTH: Phan Hồng Phương 10 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. Lưu Cẩm Lộc phản ứng chuyển hoá giữa các sản phẩm phản ứng. Bằng cách sử dụng toluene tinh khiết và hydro làm nguyên liệu phản ứng, K.Liu et al.
[7] đã kiểm tra khả năng toluene có thể phản ứng để chuyến hoá trở lại thành nC7 hoặc iC7. Các kết quả cho thấy, toluene hầu như không phản ứng tại 477oC; 2,04 atm; tỷ lệ mol H2/toluene = 3 và WHSV=50 [g nguyên liệu/ (g chất xúc tác. Vì vậy, hầu như phản ứng chuyển hoá toluene ngược lại thành nC7 và iC7 không thể xảy ra tại điều kiện phản ứng trên. Sơ đồ phản ứng của McHenry et al.[8] thừa nhận rằng toluene được tạo thành trực tiếp và nhanh chóng từ sự đóng vòng của nC7 và iC7.Liu et al.
[7] đã kiểm tra lại điều này thông qua kết quả thực nghiệm của phản ứng sử dụng 2-metylhexane-sản phẩm iC7 chính được tạo thành trong quá trình dehydro hóa đóng vòng nC7 làm nguyên liệu phản ứng tại 477oC; 2,04 atm; H2/iC7 = 3 và WHSV = 80. Sau một giai đoạn ngắn từ khi bắt đầu phản ứng, sản phẩm chính của phản ứng là nC7 và sản phẩm cracking. Việc toluene hầu như không hiện diện trong sản phẩm phản ứng cho thấy toluene hình thành do phản ứng đóng vòng phân tử iC7 là không quan trọng so với nC7. Khi so sánh mô hình của Van Trimpont et al.
[9-11] và của Ramage et al. [12, 13], có thể xuất hiện câu hỏi liệu phản ứng dehydro hoá đóng vòng tạo toluene sẽ bao gồm phản ứng đóng vòng sáu trực tiếp hay là phản ứng đóng vòng năm kèm theo phản ứng mở vòng năm thành sáu hay cả hai quá trình này đều diễn ra đồng thời. Để trả lời những câu hỏi này, K.Liu et al. [7] đã sử dụng nguyên liệu etylxiclopentane (ECP) và metylxiclopentane (MCP)-đại diện cho nhóm hydrocacbon vòng năm C5N và đo tốc độ phản ứng mở vòng thành nC7/nC6 và mở rộng vòng năm thành vòng sáu tạo toluene/benzen tại nhiệt độ 477oC và 2,04 atm.
Hydrocacbon thơm (toluene/benzen) và n-paraffin (nC7/nC6) là những sản phẩm chính của phản ứng reforming ECP/MCP. Tốc độ phản ứng cracking và isome hoá, so sánh với hai phản ứng nêu trên, là không đáng kể sau thời gian ngắn ban đầu HVTH: Phan Hồng Phương 11 Luận văn Thạc sĩ GVHD: GS. Lưu Cẩm Lộc của quá trình dehydro hóa đóng vòng. Sau thời gian ngắn từ khi bắt đầu phản ứng, với hệ số tốc độ phản ứng C5N thành toluene đã xác định, nồng độ toluene từ chuyển hoá này nhỏ hơn lượng toluene thu được trong cả quá trình.
Điều này cho thấy rằng ngoài hydrocacbon vòng năm, dehydro hoá hydrocacbon vòng sáu cũng đồng thời xảy ra trong quá trình tạo thành toluene. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả K.Liu et al. [7] cho rằng hydrocacbon no vòng sáu không cần thiết xuất hiện trong mô hình động học phản ứng dehydro hóa đóng vòng n-heptane, bởi vì phản ứng dehydro hoá đóng vòng metylxiclohexane tạo toluene xảy ra nhanh hơn nhiều so với các phản ứng khác trong quá trình dehydro hóa đóng vòng và nồng độ của nó là rất thấp.6 biểu diễn sơ đồ phản ứng đơn giản nhất cho phản ứng reforming n-heptane từ kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả K.Liu et al. 6 Mô hình phản ứng đơn giản của quá trình reforming nC7 trên xúc tác Pt- Re/Al2O3 theo K.Liu et al.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính xúc tác [14] 1.