Đặt vấn đề Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) Xuân Liên thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đây là khu vực không chỉ chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao mà còn là rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu cho hồ thủy lợi - thủy điện Cửa Đạt nói riêng và vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hóa nói chung. Các loài thuộc ngành Thông đóng vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái rừng của khu bảo tồn. Kết quả điều tra góp phần giúp công tác quản lý và bảo tồn lâu dài khu hệ thực vật ở đây.
Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2010, đã xác định được 7 loài Hạt trần thuộc 4 họ và đã mô tả được đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, khả năng tái sinh tự nhiên của các loài Thông điều tra được trong toàn khu bảo tồn: Bách xanh (Calocedrus macrolepis) (Kurz) Benth&Hook, Pơ mu (Fokienia hodginsii) (Dunn) Henry et Thomas, Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) (Blume) D. Laub, Kim giao núi đất (Nageia wallichiana ) (C.Kuntze, Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) D. Don, Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) (Hance) Pilger; trong đó có 4 loài có tên trong sách đỏ Thế giới, 3 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam năm 2007. Tuy nhiên, các thông tin, các dẫn liệu khoa học và các nghiên cứu chuyên sâu về loài cây Sa mộc dầu có nhiều.KBT Xuân Liên với diện tích 26.303,6 ha, là nơi chứa đựng đa dạng sinh học cao, nơi cư trú của rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm và đặc hữu.
Trong hệ thực vật loài Sa mộc dầu có nguồn gốc cổ xưa nhất, chúng có vai trò quan trọng để duy trì sự cân bằng trong hệ sinh thái rừng và là đối tượng rất nhạy cảm đối với tác động của con người cũng như những biến đổi của môi trường. Loài Sa mộc dầu ở khu BTTN Xuân Liên không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế, thẩm mỹ cao, tuy nhiên những nghiên cứu về loài Sa mộc dầu ở đây còn hạn chế, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng tập thể, cán bộ khu bảo tồn mới dừng lại ở việc điều tra, thống kê thành phần loài và bảo vệ nguyên vẹn, hạn chế sự thất thoát tài nguyên ra khỏi khu bảo tồn; chưa có thông tin đầy đủ n 2 về đặc điểm sinh thái, phân bố của loài Sa mộc dầu dẫn đến quy hoạch thiếu hoặc sai vùng bảo tồn thích hợp cho sự tồn tại của chúng. Để góp phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này, được sự nhất trí của khoa Lâm Nghiệp, ban giám hiệu nhà trường, thầy giáo hướng dẫn cùng sự tiếp nhận của ban quản lý khu bảo tồn Xuân Liên - tỉnh Thanh Hóa, chúng em tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây sa mộc (Cunninghamia konishii Hayata) dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên - tỉnh Thanh Hóa”. Mục tiêu của đề tài - Xác định được phân bố của Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Xuân Liên: + Phân bố theo đai cao.
+ Phân bố theo địa lý. - Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu: + Đặc điểm hình thái và vật hậu: thân, lá, hoa/nón quả. + Đặc điểm sinh thái bao gồm: hoàn cảnh rừng nơi Sa mộc dầu (SMD) phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi Sa mộc dầu phân bố (mật độ, tổ thành, tầng thứ, thường gặp). + Đặc điểm tái sinh tự nhiên (mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc điểm tái sinh).
Mục đích nghiên cứu - Xác định được phân bố, nghiên cứu được đặc điểm lâm học của cây SMD tại khu bảo tồn Xuân Liên - Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển SMD + Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh + Các giải pháp về kinh tế, xã hội và chính sách của nhà nước. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 1. Ý nghĩa học tập - Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn và học hỏi được thêm nhiều kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường học. - Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà.
Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. - Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây quý hiếm SMD. - Là cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển SMD. Ý nghĩa thực tiễn - Trên cơ sở việc nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của SMD xác lập cụ thể các tiểu khu có SMD phân bố và giao cho các trạm quản lý bảo vệ rừng khu bảo tồn Xuân Liên.
Từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây SMD. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu trên thế giới Theo Warm (1980), Loài Sa mộc dầu thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae). Các loài cây thuộc họ này có dạng gỗ lớn.
Trên thế giới họ này có 8 chi, khoảng 13 - 14 loài, trong thời đại cổ sinh và Ecôxen, các loài của họ này đã tạo thành những cánh rừng rộng lớn ở vùng Bắc bán cầu. Hiện tại hầu như tất cả chúng chỉ còn sót lại tại những vùng rất nhỏ với những loài mọc tự nhiên, đa phần đều tồn tại ở trạng thái trồng. Các chi trong họ là: Sequoia, Metasequoia, Sequoiadendron, Taiwania, Cunninghamia, Taxodium, Glyptostrobus, Cryptomeria. Phân bố ở châu Á (Trung Quốc, Việt Nam) và châu Mỹ.
Nhiều loài có kích thước rất lớn như Squoiadendron giganteum, gỗ đỏ Sequoia sempervirens, Bụt mọc Taxodium mucronatum có chiều cao tới 100m hoặc hơn và đường kính tới 10m và có thể tồn tại tới 3 - 4 ngàn năm. Một điều rõ ràng rằng các loài thuộc họ này cho gỗ đẹp, dáng cây cao rất thẳng được trồng rộng rãi ở các vùng có khí hậu ôn đới nóng với mục đích làm cảnh và cho gỗ. Thuộc họ này ở Việt Nam có ba chi với 3 loài mọc hoang dại như: Thủy tùng Glytostrobus pensilis (Staunt. Koch, Sa mộc dầu Cunninghamia konishii Hayata và Bách tán Đài loan kín Taiwania cryptomerioides Hayata và một số loài nhập trồng làm cảnh lấy bóng mát hay trồng như: Sa mộc Cunninghamia lanceolata (Lamb., Bụt mọc Taxodium distichum (L.
và Cryptomeria japonica. Riêng chi Taiwania chỉ có một loài T. Cryptomerioides được tìm thấy ở Đài Loan từ năm 1906 và gần 100 năm chúng được coi là chỉ có phân bố ở Đài Loan, Tây Nam Vân nam. Việc phát hiện loài này ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn, không chỉ bổ sung thêm một loài cho hệ thực vật Việt Nam, mở rộng phân bố của loài trên thế giới mà còn đóng góp nguồn gen phục vụ cho việc trồng rừng (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11] Ngoài ra có tài liệu nêu chi Sa mộc dầu (danh pháp khoa học: Cunninghamia) là một chi có 1 loài cây thân gỗ, thường xanh, thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae).
Chúng có nguồn gốc ở khu vực Trung Quốc, Đài n 5 Loan và Việt Nam, các cây lớn có thể cao tới 50-55m. Tên gọi khoa học của chi này được đặt theo tên của Dr. James Cunningham, một bác sĩ người Anh đã đưa các loài này vào gieo trồng năm 1702 (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11] Các loài trong chi Cunninghamia có các lá kim với ngạnh mềm, dai như da, cứng, màu xanh lục tới xanh lục-lam, mọc vòng xung quanh thân theo hình cung đi lên; các lá này dài 2-7cm và rộng 3-5 mm (tại phần gốc lá), và mang hai dải khí khổng màu trắng hay trắng ánh lục ở phía dưới và đôi khi là ở phía trên mặt lá. Tán lá có thể trở thành màu nâu đồng khi thời tiết quá lạnh.
Các nón nhỏ và không dễ thấy khi thụ phấn vào cuối mùa đông, các nón đực mọc thành cụm khoảng 10-30 nón, còn các nón cái mọc đơn lẻ hoặc 2-3 nón cùng nhau (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11]. Các nón hạt chín sau 7-8 tháng, dài khoảng 2,5-4,5cm, hình trứng hoặc hình cầu, với các vảy mọc xoắn; mỗi vảy chứa 3-5 hạt. Chúng thường phát triển nhanh (với chồi sinh dưỡng mọc trên đỉnh của nón) trên các cây do người trồng; nhưng lại hiếm ở cây mọc hoang, và có thể là giống cây trồng được chọn lọc để dễ dàng nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng trong trồng rừng (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012)[11]. Khi cây càng lớn thì thân của nó có xu hướng tạo ra các chồi rễ mút xung quanh gốc, cụ thể là sau khi bị các vết thương ở thân hay rễ, và các chồi rễ mút này sau đó có thể phát triển để tạo thành cây nhiều thân.
Vỏ của các thân cây lớn có màu nâu dễ dàng bị lột ra để lộ phần vỏ bên trong màu nâu đỏ [11]. Gỗ Sa mộc dầu là loại gỗ được đánh giá cao tại Trung Quốc, do nó là loại gỗ mềm có hương thơm và khá bền, tương tự như của Hồng sam Bắc Mỹ (Sequoia sempervirens) và Bách Nhật Bản (Cryptomeria japonica). Cụ thể, nó được dùng sản xuất các loại quan tài cũng như trong xây dựng đền miếu, tại những nơi mà hương thơm được đánh giá cao. Nó cũng được trồng làm cây cảnh trong các công viên và các khu vườn lớn, tại đây thông thường nó cao khoảng 15-30m (Nguồn tài liệu: Dẫn theo Lê Xuân Toàn năm 2012) [11].
Các tài liệu nghiên cứu gần đây của Tổ chức Bảo tồn thế giới (IUCN) cho thấy ở phạm vi toàn cầu có khoảng 13% số loài thực vật trên thế giới n 6 đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đe dọa tiềm năng sử dụng của nhân loại trong tương lai. Qua xem xét dữ liệu từ 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, mới đây các nhà khoa học Mỹ cho thấy có khoảng 22-47% số loài thực vật có thể bị đe dọa, cao hơn nhiều so với dự đoán 13% của IUCN. Các số liệu công bố năm 1998 cho thấy ở Hoa Kỳ, có tới 29% số loài thực vật (4669 loài trong tổng số 16.108 loài ) đã được liệt kê vào danh sách bị đe dọa. Con số các loài thực vật bị đe dọa ở Thổ Nhĩ Kỳ là 21,7%; Tây Ban Nha là 19,5%; Cu Ba 13,6%; Pê Ru 13,1%; Nhật Bản 12,7%; Ôxtrâylia là 14,4% và Braxin là 2,4% (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, 2006) [10].