Chương 1.1 ng quan tải liệu * Tình hình nghiên cứu cá mú trên thế giới. * Tình hình nghiên cứu cá mú ở Việt Nam. * Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá tại hạ lưu sông Thu Bổn. Chương 2 * Đối tượng, địa điểm, thời gian, nội dung nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu “Chương3. Kết quả nghiên cứu * Đặc điểm của các hệ sinh thái vùng hạ lưu sông Thu Bồn. * Hiện trang khai thác cá Mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides) tại hạ lưu sông Thu Bén * Dặc điểm phân bổ theo thời gian của cá Mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides) trong các hệ sinh thái vùng hạ lưu sông Thu Bồn, * Đặc điểm phân bố theo cấu trúc kích thước của cá Mú đen chấm nâu (Epinephelus coioides) trong các hệ sinh thái vùng hạ lưu sông Thu Bồn. LUẬN VÀ KIÊN NGÌ U THAM KHẢO QUYẾT ĐỊNH GIAO DE TAL BAI BAO KHOA HOC PHY LUC 5 CHUONG 1.
Tình hình nghiên cứu cá mú trên thé gi 1.1 Tình hình nghiên cứu cá mit Họ Cá mú hay họ Cá song (danh pháp khoa hoe: Serranidae) là một họ lớn gồm các loài cá thuộc về bộ Cá vược (Pereiformes). Họ này có khoảng 555 loài dạng cá mú trong 75 chỉ, như cá vược đen (Cenoprisis striata) vi cée loài cá mú (phân họ Epinephelinae), Phan ho Epinephelinae đã được phân loại thành 15 chỉ bởi Froese và Pauly (2013). Chỉ Epinephelus là một trong những chỉ quan trọng nhất. Mỗi chỉ được xác định chủ yếu bởi các đặc điểm hình thái, chẳng hạn như cấu trúc cơ thẻ, kích thước và số lượng các bộ phân cơ thể, hoặc các kẻ màu trên thân.
Tuy nhiên, có nhiều đặc điểm. hình thái chồng chéo giữa loài cá mú. Bi tày khiến cho việc phân loại cá mú gặp nhiều khó khăn. Randall và Lim (2000) đã ống kê và cập nhật danh mục thành phần loài cá ở Biển Dông của nhiều công trình nghiên cứu, tác giả đã ghi nhận 126 loài, thuộc 29 giống của họ cá mú.
Trên trang cơ sở dữ liệu cá Dài Loan (Fish of Taiwan), đã ghỉ nhận danh mục thành phan loài họ cá mú ở Biễn Đông gồm 121 loài, thuộc 31 giống [96]. Bao cao vé sy đa dạng loài của cá mú ở Thái Lan có 20 - 25 loài 144]139|187| Cá mú sống ở đáy của cá ên nhiệt đới nhiệt đới ở tất cả các biển đại dương trên thể giới. Hầu hết phân họ cá mú đều sống ở ran san hd, nhưng, một số loài vẫn được tìm thấy ở các cửa sông và trong các rạn đá. Vùng biển tây Thái Bình Dương có 192 loài, riêng vùng Biển Đông là khu vực có thành phần loài họ cá mũ khá đa đạng với 125 loài thuộc 26 giống.
Cá mú thường sống ở vùng đáy cứng (đá) tuy nhiên người ra vẫn tìm thấy cá mú sống trong các thâm cỏ biển, con trưởng thành của một vài loài thích sống ở vùng đáy cát hoặc bùn. Phần lớn cá mú sống ở độ sâu. dưới 100m, cá chưa trưởng thành thường hay sống trong khu vực bãi triều, một số loài vẫn sống ở độ sâu từ 100 m đến 200 m (đôi khi đến 500 m). Chúng có thể sống được ở môi trường nước lợ hoặc nước mặn với độ mặn từ 5 - 4595.
Mùa he, chúng sống ở ven bờ, mùa đông di cu ra vùng xa bờ [95]. Kích thước các loài trong ho dao động từ nhỏ như ở loài Serranus subligarius với chiều dài chỉ khoảng 10 em (3,9 inch) cho tới cá Mú khổng lồ (Epinephelus itajara) dai 161 270 em (110 inch) và cân nặng tới 400 kg (880 Ib) [95], Đặc điểm chung của các loài cá mũ là nắp mang có 3 gai một gai chính với hai gai phụ trên và dưới nó. Đường bên hoàn hảo và n tục, không kéo dài tới vây đuôi (thiểu ở một số loài). Vây lưng có thể khía hình chữ V, với 7-12 gai, vây hậu môn có 3.
gai, Vay đuôi thông thường thuôn tròn, cụt hay hình lười liễm; hiểm khi chẻ. Đỉnh hàm trên lô ra ngay cá khi miệng khép lại. Vay chậu có l gai va 5 tia mém, thường có 7 tia nắp mang, đốt sống 24 - 26 [95] Cá mú có thân hình mập chắc, với miệng to và các gai nhỏ trên các nắp mang. Các đại diện của cá mú đều có hảm răng nhọn, với một cặp răng to giống như răng, anh mọc ở bảm dưới.
Cá mô là loài ăn hật và có phổ thức ão rất rộng. Thời gian kiếm ăn của cá hầu như suốt cả ngày nhưng chủ yếu tập trung vào lúc bình mỉnh hoặc hoàng hôn, đây là thời điểm con mỗi thường bắt cẩn ít tự vệ và đễ dàng bị tắn công nhất. Mặc đủ một số loài, cụ thể là tong phân họ Anhiadinae, chỉ ăn động vật phủ du, nhưng phẫn lớn các loài khác ăn cá và động vật giáp xác. Có thể nói chúng là động vật sống đáy, săn mỗi kiểu phục kích, ấn minh trong các rạn đá và phóng ra để chộp con mỗi bơi lội ngang qua.
Màu sắc tươi sáng của chúng có lẽ là một dạng ngụy trang gây. nhiễu, tương tự như các vẫn ở hỗ. Đây là loài cá có tập tính chuyển giới tính, thông thường lúc còn nhỏ là cá cái khi lớn chuyển thành cá đực. Thời điểm chuyển giới tính thay đổi theo từng loài, loài cá Mú đô (Epinephelus akaara) chuyển giới tinh lúc có chiều đài 27 - 30 cm, với trong lượng 0,7 ~ lkg, loài cá Mũ muỗi (Epinephelus fauina) lúc cô chiều dai 65 ~ 75 em, loài cá Mú chuột lúc có trọng lượng trên 3 kg.
Hệ số thành thục và sức sinh sản khác nhau ở các loài: ở cá Mũ đen chấm nâu có hệ số thành thục cao nhất vào tháng ï (5,2= 2.7%) và thấp nhất vào tháng 3. Sức sinh sản cao nhất vào tháng 12 là 3,18 + 0,61 x 106 và thấp nhất vào tháng 8 là 0,13 x 106 trứng. Sức sinh sản của cá Mú đỏ (E.000 trứng, cá Mú đen chấm nâu: 600.000 trứng/kự 95] Một số nghiên cứu vẻ đặc điểm sinh học, tập tính và số lượng loài của cá mú phải kể dén Koenig và cộng sự (2007), Brusher and Schull (2009), Craig va cộng sự (2009), Mann và cộng sự (2009), McLeanachan (2009), Murie và cộng sự (2009), Cass- Calay 7 and Schmidt (2009). Trong đó có một số nghiên cứu cụ thể về một số loài cá mú như cd Mii sim mau (Epinephelus marginatus) chit yéu sinh sống tại các đáy đá ven biển.
Cá chưa trưởng thành sinh sống ở độ sâu thấp hơn 15m, chúng có tập tính di cư theo mùa. Chế độ ăn của chúng thay đổi theo kích thước. ¡ng chủ yếu ăn các loài động vật giáp xác nhỏ. Sau khi đạt kích.
thước từ 20 = 60 em nguồn thực phẩm bắt đầu phong phú hơn là tôm, cá nhỏ và cua Khối lượng trung bình của loài nảy là 34 kg và có thể sống đến 36 năm. Tuy nhiên, Z: ‘marginatus van có khả năng sông lâu hơn và có thể đạt đến khối lượng 50 kg. Cá Mú tuyết Epinephelus niveatus phân bổ rộng tầi ở phía tây Dại Tây Dương từ ‘Massachusetts (Hoa Ky) dén Vinh Mexico, Bermuda, Caribbean va mién nam Brazil 148]. Hon mét phan ba sé lugng loai phan bé niim ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Brazil, kéo dài từ cửa sông Amazon dén giới hạn cực nam tai biên giới của ‘Uruguay [47].
Ca con thường sống tại vùng dọc bờ biển, khi trưởng thành hơn chúng. có xu hướng tìm đến các vùng thêm có độ sâu không vượt quá 150 m [62]. Là loài có kích thước lớn, phân bố tại nơi có độ sâu lớn và có giá trị cao nên chúng bị đánh bất nhiễu tại khu vực Dông Nam và Nam Brazil, Cá Mú tuyết được đánh giá là loài có giá. trị cao và đóng vai trò là loài săn mỗi bậc cao trong hệ sinh thái dưới biển [35].
ác nghiên cứu về tuổi và tăng trưởng của cá Mú tuyết được tiến hành trong khu vực phía bắc, như ở South Atlante Bight [60||91],[93] Cá mú là nguồn tài nguyên có giá trị trong hệ sinh thái san hô và nằm trong danh. sách những loài bị đe dọa cao, Mặc dù có tâm quan trọng kinh tế, một số ít cá mú thường xuyên được theo dõi hoặc quản lý tại cắp độ loài nhưng nhiều loài được báo cáo là dang trải qua sự suy giảm. Dễ xác định các mối de dọa đối với cá mú, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) danh sách tiêu chí đã được áp dụng cho tắt ả 163 loài. Danh lục Đỏ cho thấy có 20 loài (12%) nguy cơ tuyệt chủng nếu xu hướng.
hiện tại tiếp tục và thêm 22 loài (13%) được coi là gần bị đe dọa. Đối với nhiều loài việc đánh bắt quá mức còn nguy hiểm hơn việc môi trường sống bị đe doa hay mắt môi trường sống [40] “Có 8 cách đánh bắt được sử dụng để đánh bắt cá Mú giống: lưới dạng lớn đặt cổ định (ví dụ như lưới yke); bẫy; câu; lưới đẩy, cha rao (gangos), thu hút cá bằng bẫy đèn, vũng dong nước thủy triều và hóa chất [84]. Ở Indonesia, hàng chục ngân con cá 8 giống (ấu tring và cá con có kích thước tir 10 - 30 mm) ca Plectropomus spp. được khai thác bởi các ngư dân mỗi tối trong mùa cao điểm cá giống bằng thiết bị lưới fyke I84| “Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (EAO), cá mú đã đóng góp hơn 275.000 tắn trong tổng sản lượng đánh bắt thị n toàn cầu năm 2009 [94].
Điều này thể hiện sự gia tăng gần 25% từ thập kỷ trước (khoảng 214.000 tắn trong 1999) va gấp hơn 17 lần báo cáo sản xuất năm 1950 khoảng 16. Ở Indonesia, Pet - Soede (1999) đã ước tính sử dụng 1,3 kg xianua cho việc đánh bắt cá ‘mi. Việc sử dụng xianua tuy không làm phá hủy cấu trúc san hô nhưng trên thực tế lại giết chết san hô, nơi cư trú của cá mú [73]. Khoảng 80% số cá mú bị đánh bắt có khối lượng dưới 1 kg, tổng khối lượng đánh bắt năm 2009 tại Hong Kong tương ứng với 9.
Trong đó lượng tiêu thụ của các nước Châu Á chiếm tỷ lệ lớn (80%) đây là đông lực để các nước khu vực Đông Nam Á mở rộng khu vực khai thác cá mũ có khu vực Dông Nam Á và phía tây Thái Binh Dương [83] 92].Tại đã cá mũ lớn bị bắt để lâm thực phẩm hay đưa vào các nhà hàng, còn cá mũ giống bị t để đưa vào các trang trại nuôi cá giống thương phẩm [80][39].