Đặt vấn đề Trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng. Chăn nuôi lợn không những cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người mà còn là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và cung cấp các sản phẩm phụ: da, lông, mỡ.cho ngành công nghiệp chế biến. Đối với nước ta, chăn nuôi lợn không những góp phần xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân mà có nhiều hộ gia đình đã vươn lên làm giàu từ nghề chăn nuôi lợn, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người nông dân. Vì thế chăn nuôi lợn đã phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên trong những năm qua, tình hình dịch bệnh xảy ra ngày càng phức tạp đã gây ra những thiệt hại lớn cho chăn nuôi lợn. Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm có tính chất lây lan mạnh, gây thiệt hại lớn thì bệnh ký sinh trùng cũng gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn. Bệnh ký sinh trùng là bệnh khá phổ biến làm giảm năng suất chăn nuôi lợn, tạo điều kiện cho các bệnh khác kế phát. Giun kết hạt (Oesophagostomum) là ký sinh trùng gây bệnh cho nhiều loài vật nuôi trong đó có lợn.
Giun trưởng thành ký sinh ở xoang ruột, ấu trùng ký sinh ở thành ruột tạo nên những u kén ở ruột gia súc. Súc vật khi nhiễm giun kết hạt nặng có thể chết. Bệnh giun kết hạt - bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra ở lợn phân bố rộng ở hầu hết các vùng miền.
Ở các tỉnh miền núi phía bắc, bệnh giun kết hạt rất phổ biến, tuy không gây ra thể bệnh cấp tính làm chết lợn nhiều, nhưng bệnh giun kết hạt làm cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi lợn. e 2 Phú Lương là một huyện miền núi, phần lớn người dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi lợn còn lạc hậu nên việc phòng bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do giun kết hạt còn ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi lợn ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong môi trường chăn nuôi lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh”.
Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở huyện Phú Lương. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong môi trường chăn nuôi lợn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm biện pháp phòng trị.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong môi trường chăn nuôi lợn tại huyện Phú Lương, góp phần vào việc nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị Oesophagostomosis ở lợn. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo người chăn nuôi phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.
gây ra, nhằm hạn chế tác hại cho lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn và thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của Oesophagostomum 2.
Vị trí của oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật học Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt Oesophagostomosis) ở lợn. Theo Skrjabin và cs. (1963) [24], Phan Thế Việt và cs. (1977) [30], giun tròn Oesophagostomum spp.
ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Shneider, 1873 Phân ngành Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Secerentea Chitwood, 1933 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Strongylata Railliet, 1916 Họ Trichonematidae Cram, 1927 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 Loài Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925 2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo Oesophagostomum ký sinh ở lợn Đề cập đến hình thái và cấu tạo Oesophagostomum spp., Skrjabin và cs. (1963) [24] cho biết: e 4 Loài O. dentatum: Dài từ 7 – 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu.
Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đực có túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm. longicaudum: Con đực dài 8,8 – 9,6 mm, bánh lái gai giao hợp dạng xẻng.
Con cái dài 8 – 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453 – 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10] cho biết: Các loài thuộc giống Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ; phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn.
dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong. Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, có 2 gai giao hợp bằng nhau dài 1,0 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm, nằm gần hậu môn, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng.
Trứng hình bầu dục, dài 0,060 - 0,088 mm, rộng 0,035 - 0,050 mm. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. dentatum là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu. Giun đực có kích thước 7,6 – 8,8 x 0,35 – 0,38mm, có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 – 1,037 mm.
Giun cái dài 7,8 – 12,5 x 0,38 – 0,43 mm ; đuôi dài 0,405 – 0,430 mm. Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 – 0,388 mm, dài 0,1 – 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình ovan, kích thước 0,056 – 0,071 x 0,032 – 0,045 mm. Phần đầu cơ thể; 3.
Phần đuôi cá thể cái; 4. Mút và gốc gai giao phối; 5. Cơ quan điều chỉnh; 6. Túi đuôi cá thể đực; 7.
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs. Vòng đời của Oesophagostomum spp. lợn Bất kỳ chương trình khống chế giun, sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng cũng là cần thiết. Do vậy, hiểu được chu kỳ (vòng đời) phát triển e 6 của giun, sán có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng chống các bệnh giun, sán nói chung và bệnh do Oesophagostomum spp.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [8]: Toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó lại có khả năng sản sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó được gọi là chu kỳ. Skrjabin và cs. (1963) [24] đã mô tả chi tiết về chu kỳ phát triển của Oesophagostomum spp.
ở lợn như sau: Trứng bài xuất ra ngoài ở giai đoạn phân chia 8 - 16 phôi bào. Người ta đã xác định được rằng, khi nhiệt độ thích hợp (30oC), ở trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ ấu trùng đã nở ra khỏi trứng. Ấu trùng giai đoạn 1 ra khỏi trứng phát triển trong môi trường bên ngoài, đến ngày thứ tư thì lột xác lần thứ nhất. Sau đó 24 giờ ấu trùng lột xác lần thứ 2, tức là tách lớp vỏ và trở thành ấu trùng giai đoạn 2, rồi lột xác lần thứ hai thành ấu trùng giai đoạn 3.
Ấu trùng giai đoạn 3 là ấu trùng cảm nhiễm, tức là có khả năng gây bệnh đối với ký chủ. Tác giả cũng cho biết, khi gây nhiễm thực nghiệm trên lợn bằng ấu trùng cảm nhiễm O. longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành ruột sau hai ngày nhiễm bệnh. Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt, ký sinh trong ống ruột ở giai đoạn phát triển thứ 4.
Sau 35 ngày cảm nhiễm thấy có hiện tượng mất các hạt ký sinh, ở chỗ hạt đó chỉ thấy mô niêm mạc dày lên. longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10]: Vòng đời Oesophagostomum spp. không cần vật chủ trung gian.
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 – 270C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới ngày 6 – 8 thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần e 7 nữa và phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của giun O. longicaudum là 50 ngày, giun O.
dentatum là 32 – 43 ngày. Phan Lục (2006) [21] cho biết: Ấu trùng O. dentatum khi vào ruột lợn chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng. Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành giun trưởng thành sau 1,5 – 2 tháng.
Tuổi thọ của giun từ 8 – 10 tháng. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [14]: Giun trưởng thành ký sinh trong ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường. Trứng gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng.
Ấu trùng I sau 24 giờ, ở nhiệt độ 22 - 24oC phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 – 0,64 mm. Ấu trùng II phát triển được hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III. Ấu trùng này lẫn trong thức ăn, nước uống vào cơ thể ký chủ. Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trưởng thành ở ruột già.
Vòng đời Oesophagostomum spp. có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau: Oesophagostomum spp. trưởng thành Trứng Ấu trùng 10 – 17 giờ Qua 2 lần (Ký sinh ở ruột già lợn) lột xác Rời khỏi u kén Ấu trùng có sức gây nhiễm Ký chủ Lột xác lần 4 Ấu trùng Lột xác lần 3 nuốt phải kỳ IV Ruột Hình 2. Sơ đồ vòng đời Oesophagostomum spp.