Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiê ̣p , có tới trên 70% dân số làm nghề nông. Trong đó chăn nuôi lợn có một vị trí rất quan tro ̣ ng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì nó là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi lợn tạo ra sản phẩm có tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ, xương…cho các ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi lợn kết hợp với trồng trọt, thủy sản tạo nên mô hình VAC mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện môi trường sinh thái.
Trong những năm qua, chăn nuôi lợn ở nước ta ngày càng phát triển, trong đó Thái Nguyên là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển, số lượng đàn lợn của tỉnh ngày càng tăng lên, nhiều trang trại được xây dựng mới, người dân đầu tư cho con lợn và xem đó là nghề ổn định của gia đình mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở nhiều địa phương, chăn nuôi lợn còn theo phương thức nhỏ lẻ , tâ ̣n du ̣ng, hiệu quả chăn nuôi còn thấp, lợn chậm lớn, còi cọc, tiêu chảy…Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là bệnh ký sinh trùng. Giun kết hạt (Oesophagostomum) là ký sinh trùng gây bệnh cho nhiều loài động vật khác nhau, trong đó có lợn. Giun trưởng thành ký sinh ở xoang ruột, ấu trùng ký sinh ở thành ruột tạo nên những u kén ở ruột gia súc.
Súc vật khi nhiễm giun kết hạt nặng có thể chết. Bệnh giun kết hạt ở lợn phân bố rộng ở hầu hết các vùng miền. Ở các tỉnh miền núi phía Bắc, bệnh giun kết hạt rất phổ biến, tuy không gây ra thể bệnh cấp tính làm chết nhiề u lợ n, nhưng bệnh giun kết hạt làm cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi lợn. e 2 Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên phát triển khá mạnh.
Tuy nhiên, việc phòng bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do giun kết hạt còn ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài:" Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong môi trường chăn nuôi lợn tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.
gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng trị Oesophagostomosis ở lợn, từ đó đề xuất quy trình phòng chống bệnh hiê ̣u quả.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi cách phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, nhằm hạn chế tác hại cho lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa ho ̣c của đề tài 2.
Đặc điểm sinh học của giun tròn Oesophagostomum spp. Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt ở lợn. Theo Skrjabin, Petrov A.M (1977) [21] giun kết hạt Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Shneider, 1873 Phân ngành Nemathelmintha Shneider và Schulz, 1940 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Secerentea Chitwood, 1933 Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Strogylata Railliet, 1916 Họ Trichonematidae Cram, 1927 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 Loài Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925 Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [11] về vị trí của giun Oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật như sau : Lớp giun tròn Nematoda Phân lớp Secerentea Bộ Rhabditida Phân bộ Strogylata Họ Trichonematida Giống Oesophagostomum Loài Oesophagostomum dentatum e 4 2.
Đặc điểm hình thái và cấu tạo của Oesophagostomum Skrjabin, Petrov A. (1977) [21] cho biết: Loài Oesophagostomum dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đưc có túi đuôi, 2 gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm.
Con cái âm hộ nằm gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm. Loài Oesophagostomum logicaudum: Con đực dài 8,8 – 9,5 mm; con cái dài 8 - 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453m – 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [4], các loài thuộc giống Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn. Loài Oesophagostomum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có cánh đầu, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản. Giun đực dài 8 – 9 mm rộng 0,14 – 0,37 mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 – 1,14 mm.
Giun cái dài 8 – 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 – 0,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lê (1998) [16], Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [9], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2005) [10], Phan Lục (2006) [18]: Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già lợn, không có cánh đầu. Túi miệng rộng, có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản.
Con đực dài 8 – 9 mm x 0,37 mm có túi đuôi. Sườn bụng song song nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với rìa mép của túi đuôi. Ba sườn hông bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước tách rời hai e 5 sườn kia, còn sườn hông giữa và sau song song với nhau, sườn lưng chia thành sườn lưng ngoài và sườn lưng trong, sườn lưng trong lại chia thành hai nhánh, có hai gai giao hợp dài 1 – 1,14 mm. Phạm Sỹ Lăng và cs.
(2009) [11] cho biết thêm: Giun cái dài 8 – 11,3 mm, đuôi dài 0,117 – 0,374 mm. Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 – 0,388 mm. Âm đạo rộng về trước, dài 0,1 – 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Giun Oesophagostomum dentatum là loài giun tròn nhỏ không có cánh đầu.
Giun đực có kích thước (7,6 – 8,8) x (0,35 – 0,38) mm có túi đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 – 1,037 mm. Giun cái dài (7,8 – 12,5) x (0,38 – 0,43) mm, đuôi dài 0,405 – 0,430 mm, dài 0,1 – 1,15, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng có hình ovan, kích thước (0,036 – 0,071) x (0,032 – 0,045) mm. Phần đầu cơ thể, 3.
Phần đuôi cá thể, 4. Đuôi của con cái, 3. Đuôi của Mút và gốc gai giao phối, 5. Cơ quan điều con đực, 4.
Phần cuối gai giao hợp, 5. Túi đuôi cá thể đực, 7. Nón sinh dục của con đực e 6 Hình 2. Vòng đời giun kết hạt lợn Những nghiên cứu của Trương Lăng, Xuân Giao (2002) [9], Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [10], Phạm Sỹ Lăng và cs.
(2009) [11] cho biết: Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian. Trứng có kích thước 70 – 74 μm x 40 – 42 μm, gồm 8 – 16 hạt trong vỏ trứng khi mới nở nhiệt độ 25 – 27ºC sau 10 – 17 giờ trứng nở thành ấu trùng (theo Shoulsby cần 24 giờ). Ấu trùng I đo được 304 – 307 μm, lúc mới nở, sau phát triển đo được 425 – 433 μm. Ấu trùng I sau 24h ở nhiệt độ 22 - 24ºC phát dục thành ấu trung II dài 440 - 645 μm.
Ấu trùng II phát triển được 2 ngày thì ấu trùng gây nhiễm III, dài 515 – 532 μm. Kể cả vỏ dài 660 – 720 μm. Giun trưởng thành Trứng Ấu trùng 10 – 17 giờ Lô ̣t 2 xác (Ký sinh ở ruột già lợn) lầ n Rời khỏi Ấu trùng có u kén sức gây nhiễm Ký chủ Lột xác lần 4 Ấu trùng Lột xác lần 3 Ruột nuốt phải kỳ IV Hình 2.5 Sơ đồ vòng đời giun kết hạt. e 7 Thời gian hoàn thành vòng đời là 24 – 43 ngày.
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 – 27ºC, sau 10 – 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ 3 tới 6 – 8 ngày thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa tạo thành giun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng, 1997) [8]. Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở ngoại cảnh Theo S.krjabin và cs. (1977) [21]: Ở nhiệt độ thích hợp (30ºC), trong trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 – 18 giờ mới nở ra và vào môi trường bên ngoài.
Ở nhiệt độ cao 45 – 50ºC trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp 3ºC trứng không phát triển. Phan Lu ̣c (2006) [18] nhận xét: Sự phát triển, khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm môi trường trước hết phụ thuộc vào khí hậu. Gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, sau 5 – 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn.
Theo Phan Địch Lân và cs. (2002) [13], Phan Lục, Nguyễn Đức Tâm (2000) [17], Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (2008) [6]: Trứng giun kết hạt theo phân ra ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 – 17 giờ nở thành ấu trùng. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm ở ngoại cảnh Alicata (1935) cho biết ấu trùng Oesophagostomum dentatum có sức đề kháng tốt với nhiệt độ để ở -19ºC đến -29ºC qua 10 ngày vẫn sống, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm.
Ấu trùng rất nhạy cảm với khô ráo.