Mở đầu Trên phạm vi toàn cầu, các nhân phóng xạ nhân tạo bất nguồn từ các vụ nổ hạt nhân trong khí quyển truớc năm 1980 và do các hoạt động của công nghiệp hạt nhân, trong đó có các sự cố hạt nhân như Chemobyl. Sản phẩm phóng xạ từ các nguồn nói trên đã được vận chuyển đi rất xa theo các dòng lưu chuyển trong khí quyển và thủy quyển gây nên tình trạng nhiễm bần phóng xạ toàn cầu. Cho đến nay sau gần bốn thập kỷ thử nghiệm vũ khí hạt nhân (VKHN) ô ạt, các nhân phóng xạ còn tồn đọng lại trong môi trường chủ yếu là ICs, Sr, cdc déng vi Pu, '*C và ?H, vì chúng là những đồng vị có chu kỳ bán rã tương đối dài. Các môi trường ở đó những nhân phóng xạ nhân tạo còn tồn tại với hàm lượng tương đối cao, và có thể đo đạc tương đối dễ dàng, là đất, bùn đáy (trầm tích bề mặt) và một số động thực vật.
Đại dương là nơi tồn trữ một lượng phóng xạ lớn, nhưng hàm lượng các nhân nhân tạo trong nước biển khá thấp, cần có những kỹ thuật tương đối tinh vi mới định lượng được. Trong môi trường khí chúng có hàm lượng rất thấp, thường là dưới ngưỡng đò trong các thí nghiệm quan trắc phóng xạ môi trường hiện nay. Sau chiến tranh "lạnh", ô nhiễm phóng xạ môi trường biển ở vùng Bắc bán cầu đã trở thành vấn đề sôi động hơn. Các nhân phóng xạ từ công nghiệp hạt nhân ở Anh, Mỹ, Pháp, Liên xô cũ được thải ra biển hoặc chôn cất dưới đáy đại dương, hoạt động và sự cố của các tàu ngầm nguyên tử v.
gây nguy cơ hủy hoại môi trường biển đã được nhiều nhà khoa học Âu Mỹ hợp lực nghiên cứu. Trong khi đó, hàm lượng các nhân phóng xạ nhân tạo trong môi trường khí và đất hiện nay, nói chung, không phải là vấn để đáng quan ngại nhiều về mặt ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, các nhân phóng xạ nhân tạo trong hai môi trường đó vẫn được tiếp tục quan tâm nghiên cứu vì hai ly do: 1) quan trac tác động môi trường do hoạt động hạt nhân và cảnh báo sự cố, 2) sử dụng chúng như các chỉ thị để đánh 'dấu các quá trình vận chuyển trong môi trường phục vụ nhiều yêu cầu khác nhau của nên kinh tế. Các vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân trong không khí Lượng nhân phóng xạ sinh ra, hướng vận chuyển và thời gian lưu tồn của chúng trong khí quyển rất phụ thuộc vào công suất của vụ nổ.
6 những vụ nổ dưới 100 kilotons TNT (1 kiloton TNT tương đương 4.2x10"? J) phần lớn nhân phóng xạ nằm gọn trong tầng đối lưu, đi chuyển và phân bố đọc theo dải vĩ tuyến của địa điểm vụ nổ và được lưu tồn trong khí quyển không quá vài tháng trước khi rơi xuống trái đất (chủ yếu theo mưa). Nếu vũ khí có công suất lớn hơn 500 kilotons, phần lớn nhân phóng xạ bốc thẳng lên tầng bình lưu, di chuyển và phân bố rộng khấp toàn cầu trong thời gian nhiều năm trên tầng này, rồi cuối cùng cũng rơi xuống đất qua tầng đối lưu do các quá trình xáo trộn theo phương thẳng đứng giữa hai tầng bình lưu và đối lưu. Trong khoảng thời gian cho đến trước 1980 đã có 423 vụ nổ hạt nhân trong khí quyển do 5 cường quốc tiến hành. Các vụ nổ này xảy ra trên đất liên, trên biển và có khi ở những độ cao hàng trăm km.
Chỉ tiết về các vụ nổ được giới thiệu trên bang 1. Từ năm 1962, khi Mỹ và Liên xô ký hiệp định ngừng thử vũ khí hạt nhân trong khí quyền, hai nước này vẫn tiến hành. hàng trăm vụ thử vũ khí dưới lòng đất. Lượng nhân phóng xạ thoát ra ngoài khí quyển từ các vụ thử này rất không đáng kể.
Trong khi đó, Pháp và Trung quốc, vẫn tiếp tục thử trong khí quyển cho đến 1974 và 1980. ‘ Bang I Các vụ nổ hạt nhân trong khí quyển [1] Công suất ước lượng (MT) Thời gian Số vụ Địa điểm Phân hạch Nhiệt hạch Mỹ 1945-62 193 Các đảo Marshall, Johnson, 72 67 Christmas tren TBD, Las Vegas bang Nevada Liên xô 1949-62 142 Semipalatinsk, Kazachtan, đảo 111 247 Nova Zemla trén BBD : Anh 1952-53 21 Maralinga, Australia &: đảo il 6 Christmas trén TBD Pháp 1960-74 45 Algeria & quần đảo san hô , dtl 1 Tuamoto, Nam TBD Trung quốc 1964-80 22 Lop Nor, Tân cương 13 8 Téng cộng 423 218 329 Trong số những địa điểm thử nghiệm VKHN trên bang 1 thi có ba địa điểm gần Việt nam hơn cả mà các chỉ tiết của chúng được ghi trên bảng 2. Tuy nhiên, khoảng cách gần hay xa chưa phải là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độ rơi lắng phóng xạ tại một nơi quan trắc. Lệ trình của đám mây phóng xạ có ảnh hưởng quan trọng hơn nhiều, như sẽ thấy ở mục 1.
Bảng 2 Vị trí các vụ nổ hạt nhân trong khí quyển "gần" Việt nam Kinh ví | Cách Hà nội, ae gs eed độ (km) Thời điểm | - Đặc điểm Lop Nor, Tân 40°14'N, phan hach, cương 90°33'E 2600 1964-80 | nhiạthach Semipalatink, 50°25'N, phan hach,. Kazachtan 80°14E 3960 1942-62 Ì nhiệt hạch Chemobyl, 51°30'N, lò phản ứng Ukraine 31°17'E 7150 4/1986 nơ tron nhiệt Quần đảo san 11°329N hô Marshall, 04 arte 7340 1952-62 nhiét hach TBD 162°15E 1. Vận chuyển của các sol khí phóng xạ sau các vụ nổ hạt nhân Sau vụ nổ hạt nhân, một phần các sản phẩm phóng xạ rơi ngay tại chỗ, hoặc đi chuyển ít nhiều trước khi rơi xuống đất theo các hướng gió cục bộ sát mặt đất. Phân thứ hai nằm trong quả câu lửa ở phía trên sẽ phát triển thành các sol khí lơ lừng và đi chuyển theo các dòng khí ở tầng đối lưu rồi theo mưa (tuyết) rơi xuống đất sau không quá một vài tháng.
Khi công suất nổ đủ lớn, một bộ phận quan trọng các nhân phóng xạ bốc thẳng lên tầng bình lưu. Các sol khí trong tầng bình lưu có thời gian sống lâu hơn (vài năm), nhựng cuối cùng cũng rơi xuống đất qua tầng đối lưu. Trong tầng đối lưu, đám mây sol khí phóng xạ sẽ bị gió lôi đi, có thể rất xa, cho đến khi gặp những điểu kiện khí tượng nhất định trở thành mưa (tuyết) và rơi xuống đất. Phân bố rơi lắng thường Tất không đều, "lốm đốm", do đám mây phóng xạ có thể đi rất xa mới gặp vùng có mưa, khi đó toàn bộ lượng phóng xạ có thể rơi xuống đất.
Thí dụ trong vụ thử vũ khí tại Nevada, tháng tư 1953, lượng rơi lắng phóng xạ cao nhất trên nước Mỹ (trừ vùng thử nghiệm) được quan trắc tại Troy, Nữu ước, cách Nevada 3000 km. Các đám mây phóng xa ở tầng cao thường di chuyển rất xa, mang sol khí phóng xạ đi khắp hoàn cầu trong thời gian vài chục ngày. "Trên tâng bình lưu, với thời gian sống trung bình vài năm (không kể phân rã hạt nhân) các sol khí phóng xạ "kịp" phân bố trên khắp toàn cầu, từ xích đạo đến hai cực. Sự khác biệt về các đặc trưng khí tượng ở hai tầng bình lưu và đối lưu đã tạo ra một lớp phân cách giữa hai tâng gọi là lớp đệm đối lưu (tropopause) ngăn cắn sự pha trộn giữa hai tầng, trừ trường hợp có các nhiễu động theo phương thẳng đứng làm thủng lớp đệm đó dẫn đến sự pha trộn giữa hai tầng (vertical exchange troposphere-siratosphere mixing).
Hiện tượng này thường xảy ra vào mùa xuân ở Bắc bán cầu. Độ cao của lớp đệm đối lưu giảm dần từ xích đạo (15-16 km) đến hai cực (10-11 km). Do cơ chế trên, các sol khí phóng xạ từ tầng bình lưu có thể xâm nhập vào tầng đối lưu và cuối cùng là rơi lắng xuống đất. Phân bố rơi lắng phóng xạ sau một cuộc thử vũ khí hạt nhân Rơi lắng phóng xạ tại những nơi cách xa các địa điểm thử nghiệm chịu tác động bởi quá trình vận chuyển tầm xa (synoptic) của các khối khí trong tầng đối lưu cũng như ảnh hưởng của các quá trình pha trộn thẳng đứng giữa hai tầng bình lưu và đối lưu như vừa bàn ở mục trên.
Kết quả tổng hợp của hai quá trình trên tuỳ thuộc rất nhiễu vào công suất của vụ nổ.a ghi lại kết quả quan trắc rơi lắng sau vụ thử VKHN tại Nevada tháng 4 năm 1953. Di chuyển của đám mây phóng xạ chủ yếu theo hướng đông. Những nơi cách xa trung tâm nổ nhưng ngay trên cùng vĩ tuyến vẫn có thể nhận lượng phóng xạ cao hơn rất nhiều so với những nơi gần trung tâm nhưng lại ở vĩ độ khác. Kết quả là phân bố theo vĩ độ trên phạm ví toàn cầu có đạng hình chuông như trên hình 1.
Chuyển động theo vĩ tuyến được minh hoạ trên hình 1.b, ở đó ghi lại kịch bản vận chuyển đầm mây phóng xạ sau vụ thử VKHN của Trung quốc tại Lop Nor ngày 14 tháng 5 năm 1965. Đám mây phóng xạ đi chuyển về hướng đông dọc theo vĩ tuyến, thực hiện một vòng quanh trái đất hết khoảng 3 tuần lễ.a,b ứng với trường hợp công suất nổ nhỏ và đám mây phóng xạ chủ yếu nằm trong tâng đối lưu thấp. Trong trường hợp vũ khí nhiệt hạch cỡ megaton, đám mây phóng xạ bốc lên tầng đối lưu trên cao, tỏa rộng ra hai bên vĩ tuyến như hình 1.c, ở đó ghi lại kết quả đo rơi lắng phóng xạ trong 35 ngày sau vụ thử bom nhiệt hạch trên quần đáo san hô Marshall, "Thái bình đương. Nhân đây cũng thấy rằng, Philippines và Việt nam là hai nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của các vụ thử vũ khí nhiệt hạch của Mỹ ở Thái bình đương.
Theo các số liệu trên hình 1.c, hoạt độ rơi lắng phóng xạ trên toàn VN nhận được chỉ từ một vụ nổ “. này trong vòng một tháng đã lên đến quá 140 Bq/m2. Những gì vừa nói trên chỉ liên quan đến rơi lắng phóng xạ trong phạm vi tầng đối lưu và kéo đài không quá một vài tháng sau các vụ nố. Một phần khá lớn lượng phóng xạ rơi lắng xuống đất là từ các vụ nổ nhiệt hạch và xuất phát từ tầng bình lưu.
Chưa thấy có công trình nào bàn đến sự phân lượng toàn cục giữa hai tầng về mặt rơi lắng phóng xạ. Vả lại, trong thời gian thử VKHN ô ạt, các nhân phóng xạ xuất phát từ tầng bình lưu là kết quả tổng hợp của nhiêu lần thử, không thể xác định rơi lắng phóng xạ cho riêng một lần thử nào. nhiên, có thể nói rằng ở những địa điểm cách xa các trung tâm thử vũ khí (như Việt nam) thì các nhân phóng xạ quan trắc được trong rơi lắng tích luỹ (cumulative) chủ yếu là xuất phát từ tầng bình lưu.