Mở đầu Chương này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu chung và những mục tiêu cụ thể cần nghiên cứu. Giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian thời gian, nội dung và giới thiệu sơ lược cấu trúc đề tài. Tổng quan Trình bày tổng quan về hội thảo khoa học và các nghiên cứu liên quan đến nhu cầu tham gia của sinh viên. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trinh bày nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và giới thiệu chi tiết các thang đo được sử dụng trong đề tài.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này là phần quan trọng của khóa luận. Trình bày thông tin đữ liệu nghiên cứu, kết quả kiêm định thang do bang Cronbach’s Alpha và EFA và kết qua phân tích. Kết luận và kiến nghị Chương này rút ra những kết luận từ kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu, các đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị. Đồng thời, trình bày các hạn chê của nghiên cứu.
CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tổng quan về nhu cầu tham dự hội thảo khoa học Theo Tiến sĩ Ngô Tự Lập (Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rang “dat nước cần những người trẻ có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, như tinh thân khai sang”, có bằng cấp cao chưa chắc đã là người khai sáng. Phải luôn luôn đặt câu hỏi và “vat vã” tìm câu trả lời. Tri thức phải là người có thiên hướng muốn khám phá.
Nhưng kiến thức là một mạng lưới thông tin rộng lớn mà chúng ta sẽ không khai thác hết được. Fukuzawa, khi nói về người Nhật thời của ông cũng nhắn mạnh: Một dân tộc chỉ mạnh khi những người con của dân tộc ay manh, dac biét la tang lớp trí thức. Điều này gần giống với tư tưởng Khai sáng của Kant: “Con người mà biết sử dụng lý trí để hiểu mình, hiểu người và hiểu vật thì chúng ta mới có khả năng làm đúng ”. Chân, thiện, mỹ là như thế! Và Fukuzawa đã đưa ra nguyên tắc nôi tiếng: “Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”, tức là một xã hội muôn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo.
Franz Jessen - Đại su, Trưởng phái đoàn Liên minh chau Âu tại Việt Nam đã có lời khuyên tới các bạn trẻ Việt Nam: “Để một đất nước phát triển thì phải có nên tang tot. Và dé có một nên tảng tốt như vậy, thì điều dau tiên là phải có một nên giáo dục thật tốt. Và nhiệm vụ quan trong nhất của hoc sinh, sinh viên là học tập tot”. Vậy, dé có những sinh viên hoc tập tốt, có tư duy độc lap, sáng tao trong nghiên cứu khoa học, đóng góp trí tuệ và năng lực của mình vào sự phát triển của đất nước, sinh viên phải luôn học hỏi, tìm tòi, khám phá những cái mới, cần phải có thông tin, tri thức từ nhà trường, từ xã hội, họ cần được cung cấp, đáp ứng và thỏa mãn đầy đủ + thông tin trong quá trình nghiên cứu khoa học, học tập và giải trí của mình khi còn là những sinh viên trên giảng đường đại học.
Vì vậy, những buổi hội thảo khoa học tại trường cũng sẽ giúp sinh viên một phần nào đó học hỏi thêm được nhiều kiến thức mới và những kỹ năng cần thiết dé có thé đáp ứng được nhu cầu của xã hội.2 Các tài liệu nghiên cứu liên quan đên nhu câu tham gia của sinh viên 2.1 Mô hình nghiên cứu trong nước Đánh giá nhu cau của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh đối với lớp kỹ năng giao tiếp Tap chi Khoa học Trường Đại học Can Thơ, (35), 50-56 của nhóm tác giả Cường, O. Nghiên cứu nay được thực hiện với mục tiêu là đánh giá nhu cầu của sinh viên Khoa Kinh tế & Quản trị Kinh doanh đối với kỹ năng giao tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn sinh viên Khoa Kinh tế & Quản trị Kinh doanh hiểu biết về kỹ năng giao tiếp nhưng lại chưa ứng dụng nhiều vảo thực tiễn. Bên cạnh đó, đa số sinh viên đều chưa hài lòng về kỹ năng giao tiếp của bản thân.
Vì vậy, sinh viên thường có nhu cầu tham gia kỹ năng giao tiếp phù hợp và có cấu trúc hợp lý. Ngoài ra, sinh viên cũng có nhu cầu khá đa dạng về hình thức lớp học, hình thức dạy học, hình thức đánh giá, số tín chỉ, và số lượng người tham gia. Nghiên cứu như cẩu thông tin của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Tap chi Thư viện Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy con người có thé tìm kiếm thông tin ở bat cứ đâu và bat cứ nơi nào thông qua các phương tiện là: sách, báo, tạp chí, truyền hình, truyền thanh, Internet.
để thỏa mãn cho những nhu cầu riêng của mình. Nhưng với sinh viên trong các trường đại học nhu cầu sử dụng thông tin đề phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của họ luôn cần phải dam bảo về chất lượng nguồn tin, đầy đủ về chủng loại thì hoạt động nghiên cứu khoa học mới thành công, quá trình học tập mới đạt kết quả cao. Vì thé van dé đặt ra ở đây là Trung tâm Thông tin — Thư viện, DHQGHN- nơi cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu khoa học, học tập và giải trí của sinh viên không chỉ cho trường DHKHXH&NV mà còn phục vụ tải liệu, thông tin cho các trường Đại học Kinh tế, Đại học Giáo dục, Đại học Khoa học Tự nhiên, Dai học Công nghệ, Đại học Ngoại ngữ và các Khoa trực thuộc DHQGHN, phải làm thế nào để có thể đáp ứng tốt và thỏa mãn tối đa nhu cầu mà người dùng tin, sinh viên đưa ra nhằm phục vụ có hiệu quả quá trình học tập, nghiên cứu, giải trí của họ, xứng đáng là trường học thứ hai sau giảng đường đại học của sinh viên trong DHQGHN.2 Mô hình nghiên cứu nước ngoài Chương trình hội thảo sinh viên nhằm nâng cao kỹ năng trình bày học thuật cho nghiên cứu sinh khoa học: Ảnh hưởng của nên tảng ngôn ngữ đến kết quả, Tạp chí Quốc tế về Phát triển Nhà nghiên cứu, Tập. 6 Số 1, trang 57-76 của tác giả Ohnishi, S.
Nghiên cứu nhằm mục dich tiết lộ cách thức sinh viên cải thiện kỹ năng trình bày học thuật của họ và những hạn chế dé cải thiện có hoặc không có ảnh hưởng của nền tảng ngôn ngữ của sinh viên. Vì con đường sự nghiệp của sinh viên sau đại học đã trở nên đa dạng hơn trong những năm gần đây, đào tạo kỹ năng chung ngày càng được đưa vào các chương trình sau đại học bên cạnh dao tạo nghiên cứu cụ thé. Tuy nhiên, đào tạo tiến sĩ thường áp dụng phong cách truyền thống, thường dựa vào một giám sát viên cá nhân mà không đưa vào các chương trình cụ thê để cải thiện các kỹ năng chung của sinh viên. Vì các kỹ năng thuyết trình học thuật rất quan trọng đối với nghiên cứu và là một kỹ năng chung mà nghiên cứu sinh tiến sĩ khoa học phải có, nghiên cứu đề xuất các chương trình hội thảo dành cho sinh viên hiện có có thể được sử dụng hiệu quả như một chương trình đào tạo tích cực để cải thiện các kỹ năng này.
Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu dài hạn về sự phát triển kỹ năng thuyết trình học thuật của nghiên cứu sinh được thực hiện. Kết quả của nghiên cứu cho thay các sinh viên đã cải thiện kỹ năng trình bày học thuật như thé nao và những han chế để cải thiện phụ thuộc vào nền tảng ngôn ngữ của họ. Tác giả thảo luận về những phát hiện của mình từ quan điểm về nền tảng ngôn ngữ của sinh viên và quá trình thích ứng với văn hóa học thuật. CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khái niệm về nhu cầu Theo Rainey (2009) Tháp nhu cầu Maslow được xem là lý thuyết nỗi bật nhất về nhu cầu của con người và đóng góp những khái niệm cơ bản cho việc nghiên cứu.
Alduaij (2013) khang định, Maslow là người tiên phong vi dai trong việc phat triển ý tưởng cho rằng các cá nhân (hay các nhóm) sẽ làm việc hiệu quả nhất khi nhu cầu của họ được thỏa mãn. Ý tưởng hợp nhất nhu cầu của cá nhân và nhu cau của tô chức có sức thuyết phục rất mạnh mẽ. Điều này cho thấy, khi người lao động được tạo điều kiện thuận lợi để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, thì họ sẽ càng có nhiều động lực dé tìm cách theo đuổi mục tiêu cá nhân và thông qua đó đạt được các mục tiêu của tô chức. Trương Minh Đức (201 1) nhận định: “Các lý thuyết tạo động lực đều xoay quanh van đề xem xét nhu cầu của con người.
Muốn tạo động lực cho nhân viên, trước hết nhà lãnh đạo cần phải quan tâm đến nhu cầu của họ, xem họ có nhu cầu gì và tạo điều kiện cho họ phan dau dé thỏa mãn nhu cầu”. Lý thuyết thang bậc nhu cau của Maslow Lý thuyết của tác gia Maslow về sự phát triển cá nhân và động lực được công bố vào năm 1943. Theo Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Nhu cầu của con người được chia thành 5 bậc từ thấp (cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết) gồm: nhu cầu sinh học — nhu cầu an toàn — nhu cầu xã hội — nhu cầu được tôn trọng — nhu cầu tự thể hiện bản thân.1 Tháp nhu cầu của Maslow muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là Tự thể hiện bản thân thành đạt cần có cảm giác được tôn trọng, inh mếnmến, , được tin tưởng kinh đ tin ture Fe Được quý trọng Tông nào đó, muốn tị ím, bạn bè thân hữu tin cậy Giao lưu tình cảm và được trực thuộc cam giác yen tam về an toàn than the việc lam, gia dint rc khỏe, tài san được dan Thé ly Be Tang thứ nhất: Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về "thé lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
Tang thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thẻ, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo. Tầng thứ ba:Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muôn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy.