CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan Trong “Of the Epidemics”, Hippocrates đã mô tả bệnh nấm Candida ở miệng (khoảng năm 400 trước Công nguyên) là “miệng bị loét do áp-tơ”. Năm 1839, Langenbeck lần đầu tiên ghi nhận loài nấm có liên quan đến bệnh tưa miệng. Năm 1847, nhà nghiên cứu nấm học nổi tiếng người Pháp, Charles Philippe Robin, đã phân loại nấm là Oidium albicans, bằng cách sử dụng “albicans” (làm trắng) để đặt tên cho loài nấm gây bệnh tưa miệng.
Năm 1923, Christine Berkout phân loại Candida vào chi Candida. Đến năm 1954, Đại hội thực vật lần thứ 8 chính thức chấp thuận tên Candida. thuộc giới Fungi, ngành Ascomycota, phân ngành Saccharomycotina, lớp Haemiascomycetes, nhóm Candida và Saccharomyces. Nhánh Candida gồm các loài C.
Nhánh Saccharomyces có C. Phân loại Candida spp. Đặc điểm chung Nấm Candida spp. sống hoại sinh ở người và các động vật máu nóng.
Kích thước nhỏ, hình bầu dục, đơn bào, sinh sản bằng cách nảy chồi hoặc nảy mầm. Khi nhuộm gram, cả nấm men và khuẩn ty giả đều bắt màu gram dương. Hình dạng có thể thay đổi tùy theo điều kiện môi trường, từ tế bào nấm men hình cầu, nảy chồi cho bào tử chồi, dạng sợi nấm giả ngắn (pseudohyphae) và dài đến sợi nấm thật (hyphae) [2, 9, 5] (Hình 1. sinh sản bằng cách nảy chồi hoặc sinh sợi tơ nấm giả.
Chúng sinh sống chủ yếu ở cơ quan tiêu hóa nhưng cũng có thể sống hoại sinh ở âm đạo, niệu đạo, da và móng. Khi gặp điều kiện thuận lợi, vi nấm từ dạng hoại sinh sẽ chuyển sang dạng ký sinh gây bệnh. Đặc trưng của sự chuyển trạng thái này là số lượng tế bào vi nấm tăng lên nhanh và hình thành những sợi nấm giả (khuẩn ty giả), nhờ vậy vi nấm có thể xâm nhập vào ký chủ để gây bệnh [5, 4, 2]. dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, môi trường khô, có thể tồn tại ở môi trường ẩm.
Hình thái nấm Candida spp. [97] Candida albicans Trên môi trường SDA, khóm nấm nhỏ, màu trắng, bề mặt trơn (Hình 1. Tế bào nấm quan sát dưới kính hiển vi có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước 3,5 - 7 x 4 - 8 μm. Trên thạch bột ngô - Tween 80 ở 25 ºC trong 72 giờ, quan sát thấy sợi nấm giả và một số sợi nấm thật, hình thành với các cụm hình tròn và các bào tử trần nảy chồi ở các ngăn.
Các bào tử dày lớn có hình thái đặc trưng, các bào tử dày bị ức chế hình thành ở 30 - 37 ºC. dubliniensis tạo ống mầm dương tính trong huyết thanh [46]. 5 Candida tropicalis Trên môi trường SDA, khóm nấm màu kem hoặc từ trắng đến xám, bề mặt mịn mềm hoặc nhăn (Hình 1. Tế bào nấm có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước 3,5 - 7 x 5,5 - 10 μm.
Trên thạch bột ngô - Tween 80 ở 25 ºC trong 72 giờ, C. tropicalis hình thành bào tử trần nảy chồi đơn lẻ hoặc theo từng cụm dọc theo những sợi nấm giả dài, một số sợi nấm thật cũng có thể được hình thành, có thể quan sát được một vài bào tử dày có hình giọt nước [46]. Candida parapsilosis Trên môi trường SDA, C. parapsilosis hình thành khóm nấm màu trắng, màu trắng kem, bóng và nhẵn hoặc nhăn (Hình 1.
Tế bào nấm men có hình trứng, kích thước 2,5 - 4 x 3 - 8 μm. Trên thạch bột ngô - Tween 80 ở 25 ºC trong 72 giờ, bào tử trần nảy chồi đơn lẻ hoặc mọc theo các cụm nhỏ dọc theo các sợi nấm giả. Đặc điểm nổi bật là sự xuất hiện của các sợi nấm giả thường cong hơn so với C. tropicalis, các sợi nấm lớn cũng xuất hiện thường xuyên hơn [46].
Candida glabrata Trên môi trường SDA, khón nấm C.