Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử bệnh giun đũa chó/mèo Nhiễm giun sán khá phổ biến ở các nước nhiệt đới đang phát triển, trong đó nhiễm giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.) ở người có tỉ lệ khá cao.Bệnh giun đũa chó/mèo thuộc nhóm lây truyền từ động vật sang người. Gồm hai loài Toxocara canis (ở chó) và Toxocara cati (ở mèo). Bệnh do Beaver và cộng sự phát hiện lần đầu năm 1952.
Ông đã chứng minh có sự hiện diện của ấu trùng Toxocara canis ở người và gọi đó là bệnh “ấu trùng di chuyển nội tạng” do sự di chuyển của ấu trùng giun đũa chó/mèo ở nhiều cơ quan: da, gan, cơ, não, lách, mắt….Trong y văn ghi nhận đây là hiện tượng “ngõ cụt ký sinh” hoặc “bệnh động vật thật không hoàn chỉnh” [5]. Người không phải vật chủ thích hợp nên giun không phát triển hoàn chỉnh thành con trưởng thành, không đẻ trứng nên không thể tìm thấy trứng giun trong phân. Chẩn đoán bệnh dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng điển hình. Chẩn đoán miễn dịch học bằng kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể kháng Toxocara sp.
trong huyết thanh bệnh nhân được sử dụng rộng rãi.Bằng phản ứng miễn dịch học, nhiều tác giả trên thế giới đã phát hiện nhiều trường hợp bệnh giun đũa chó mèo lạc chủ ở người, cho thấy bệnh giun đũa chó mèo thật sự là một vấn đề đáng quan tâm cho sức khỏe cộng đồng. Y văn đã ghi nhận hai loại giun này có những “dấu ấn” kháng nguyên chung, không phân biệt hai loại giun bằng các phương pháp chẩn đoán miễn dịch học, biểu hiện lâm sàng trên người cũng khó phân biệt. Tuy nhiên, khả năng nhiễm Toxocara canis cao hơn Toxocara cati do thói quen sinh hoạt của chó khiến bệnh dễ lây nhiễm qua người hơn là mèo [5]. Một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa chó/mèo 1.
Tác nhân gây bệnh 5 Tác nhân gây bệnh giun đũa chó/mèo là Toxocara canis và Toxocara cati, một loại giun tròn. Các giun này sẽ đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường và sau 1- 2 tuần lễ các trứng này sẽ hóa phôi (trứng chứa ấu trùng). Đây là giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng. Các đặc điểm sinh học Toxocara sp.
Phân loại: Giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.) thuộc ngành Nematoda, nhóm Phasmida, trên tộc Ascaridoidea, giống Toxocara, loài Toxocara canis và Toxocara cati [5]. Hình thể: Con trưởng thành: Con đực dài 4 – 6 cm, con cái dài 5 – 10 cm, giun đực có đuôi cong, giun cái có đuôi thẳng Trứng: Hình cầu, kích thước 400 x 20 mcm Ấu trùng: kích thước 400 x 20 mcm Hình 1.Một đoạn ruột non của chó với Toxocara canis trưởng thành. (Nguồn: http://impehcm.php?mod=thongtinvien&dvid=2&tvid=295) 6 Trứng Toxocara canis phát triển Trứng Toxocara canis chứa ấu trùng Hình 1. Hình ảnh trứng Toxocara canis (Nguồn: http://impehcm.php?mod=thongtinvien&dvid=2&tvid=295 7 1.
Chu kỳ phát triển Ấu trùng di chuyển đến các cơ quan khác nơi chúng sẽ ký sinh Sự lưu thông và phát triển Ấu trùng thoát ra khỏi đường ruột Ở chó mang thai và cho con bú, ấu trùng có thể hoạt động và gây ra: - Nhiễm trùng đường ruột ở chó mẹ - Nhiễm trùng sang chó con Chó >5 tuần tuổi (qua đường rau thai và qua bú sữa) (không có thai) Di chuyển Phổi Cuống phổi Cây Ấu trùng thoát ra phế quản Thực quản khỏi đường ruột Con người (và các vật chủ ký sinh khác) Nhiễm nặng, ấu trùng sẽ ra Giun trưởng thành trong ruột ngoài theo phân Chó < 5 tuần tuổi Trứng theo thức ăn vào ruột Trứng ra ngoài theo phân Môi trường ngoài Trứng có phôi Trứng với ấu trùng Giai đoạn nhiễm Hình 1.Chu kỳ phát triển của Toxocara sp. (Nguồn CDC:http://dpd.gov/dpdx) 8 Ở chó Chu kỳ của Toxocara canis tương tự chu kỳ sinh học của giun đũa người Ascaris lumbricoides. Một điểm khác biệt là vật chủ cuối cùng phân bố trong phạm vi rộng hơn. Vật chủ cuối cùng là những động vật ăn thịt, chó của gia đình nuôi, trong khi đó vật chủ ăn thịt các họ khác, bao gồm người thì chưa rõ.
Những điểm đặc biệt là con đường di chuyển trong cơ thể chó có khác nhau tùy thuộc độ tuổi, giới tính và khả năng dung nạp của chó. Khi chó mẹ nuốt phải trứng có phôi, trứng nở trong dạ dày và ruột non, phóng thích ấu trùng giai đoạn 2 xâm nhập vào thành ruột rồi theo đường máu di chuyển khắp nơi trong cơ thể. Một tuần sau tất cả ấu trùng giai đoạn 2 hiện diện trong mô gan, phổi, thận, não.Ấu trùng tồn tại trong các mô của chó mẹ hàng tháng hay hàng năm mà không phát triển thêm nữa. Nếu chó cái có thai ấu trùng di chuyển qua bánh rau, tới mô gan và phổi của thai.
Lúc sinh ra, ấu trùng giai đoạn 3 được tìm thấy chủ yếu trong mô phổi của chó con. Từ đó ấu trùng di chuyển đến khí quản, lọt vào thực quản đến dạ dày, phát triển thành ấu trùng giai đoạn 4 vào khoảng 3 ngày tuổi của chó con, từ ngày tuổi thứ 11 đến 21 số giun trưởng thành tăng trong ruột non chó con và sau 3 tuần trứng bắt đầu xuất hiện trong phân chó con. Lúc này, chó mẹ có thể nuốt phân chó con, nếu trứng chưa có phôi thì chính chó mẹ lại thải cơ học một lượng lớn trứng trong phân. Khi tiếp xúc với không khí, với môi trường ngoài trứng phát triển đến ấu trùng giai đoạn 1, tiếp đó là ấu trùng giai đoạn 2 nằm trong vỏ trứng (thời gian này khoảng 12 ngày, tùy điều kiện môi sinh).
Ở giai đoạn phát triển đủ độ, thời gian trứng có khả năng gây nhiễm kéo dài hàng năm. Chó con có thể nuốt phải trứng có phôi trong 3 tuần đầu sau sinh, sẽ cho ra giun trưởng thành trong ruột non. Ấu trùng giai đoạn 2 có thể tìm thấy trong mô của chó con và chó ở mọi lúa tuổi, cũng có trong mô của chuột và những loài khác được coi là ký chủ tương đồng. 9 Ở mèo Chu kỳ phát triển Toxocara cati khác với Toxocara canis ở nhiều phương cách.
Nhiễm từ phôi không xảy ra và nhiễm chỉ do nuốt trứng có phôi hay nuốt phải những động vật có chứa ấu trùng giun trong mô của chúng. Sau khi mèo nuốt trứng có phôi, ấu trùng trong dạ dày và ruột non di chuyển qua các mô của cơ thể (trong vách dạ dày, gan, phổi, khí quản, mô cơ) và ấu trùng giai đoạn 3 lại xuất hiện trong da dày 2 tuần sau. Giun trưởng thành hiện diện trong dạ dày và ruột non khoảng 4 tuần sau khi nhiễm. Nếu mèo nuốt trứng có phôi do ăn phải những động vật bị nhiễm chứa trứng, sự di chuyển của ấu trùng chỉ giới hạn chủ yếu ở thành đường tiêu hóa và giun trưởng thành có thể thấy trong ruột khoảng 3 tuần sau khi nhiễm.
Ấu trùng Toxocara cati còn được tìm thấy trong mô của giun đất, gián, loài gặm nhấn, chó và cừu. Ở người Người là vật chủ ngẫu nhiên tình cờ nhiễm do nuốt trứng có ấu trùng của Toxocara sp. Ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng, xâm nhập thành ruột và được chuyên chở theo đường tĩnh mạch của đến gan, rồi vào phổi và những cơ quan khác. Ở những cơ quan này, ấu trùng di chuyển lang thang hàng tuần hay hàng tháng hoặc nằm im, thành những tác nhân gây viêm và kích thích tạo u hạt thâm nhiễm bạch cầu toan tính.
Ngoài người, những thú vật khác như loài gặm nhấm, cừu, chim, côn trùng, và ngay cả giun đất cũng có thể nhiễm ấu trùng của Toxocara sp.Tất cả những vật ký chủ này được gọi là vật chủ ngẫu nhiên, ký sinh trùng không bao giờ phát triển đến giai đoạn trưởng thành.Không trưởng thành được, không sinh sản được. Đây là lý do không bao giờ thấy trứng trong phân người. Sự tồn tại của ấu trùng và chất tiết của chúng trong cơ thể người sẽ gây tổn thương thành mạch, mô mềm, hoại tử và xuất huyết.Cơ thể sẽ đáp ứng lại bằng cách tạo phản ứng miễn dịch và các phản ứng bệnh lý.Mức độ bệnh không chỉ phụ thuộc 10 vào số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể mà còn phụ thuộc vào mức độ các phản ứng dị ứng. Kết quả các biểu hiện bệnh lý trên lâm sàng là sự viêm nhiễm gây ra bởi các phản ứng miễn dịch trực tiếp chống lại các kháng nguyên bài tiết của ấu trùng [28].
Quá trình truyền nhiễm a. Nguồn truyền bệnh giun đũa chó/mèo Ổ chứa Chó/ mèo là ổ chứa của Toxocara sp., đất, nước bị nhiễm phân chó/mèo là ổ chứa của trứng giun. Người bị nhiễm giun đũa chó/mèo là do ăn phải thức ăn, nước uống có chứa trứng giun hoặc khi chăm sóc chó như: chơi với chó/ mèo, ngủ với chó/ mèo, dọn vệ sinh cho chó/mèo…Bệnh nhân nhiễm Toxocara sp. không phải là nguồn lây vì trong cơ thề người quá trình phát triển của giun không diễn ra hoàn toàn [32].
Thời gian ủ bệnh Từ vài tuần đến vài tháng phụ thuộc và mức độ nhiễm số lượng nhiều hay ít ấu trúng và tính nhạy cảm của người bệnh. Người nuốt phải trứng của Toxocara sp. khi đến ruột non trứng nở giải phóng ấu trùng, ấu trùng chui qua thành ruột và di chuyển đến gan.Từ gan ấu trùng qua hệ tuần hoàn và bạch huyết đi đến các tổ chức khác như phổi, nội tạng, mắt….gây ra các tổn thương. Ấu trùng có thể tồn tại trong các tổ chức nhiều năm nếu không được điều trị [32].
Thời kỳ lây truyền Chó con bị nhiễm bệnh từ chó mẹ qua rau thai hoặc qua bú sữa mẹ. Khoảng 3 tuần tuổi chúng đã có thể thải trứng giun ra ngoại cảnh. Phương thức lây nhiễm Đường ăn uống: người, chó, mèo Đường nhau thai (chu sinh) và đường sữa mẹ: chỉ có ở chó 11 c. Khối cảm thụ Chó, mèo Tất cả mọi người đều có thể nhiễm Toxocara sp., trẻ em là đối tượng có nguy cơ nhiễm cao hơn người lớn.
Thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó/mèo Tùy theo tác giả, các thể lâm sàng của bệnh Toxocara sp. được phân thành các loại. Phân loại theo tác giả Liu (1999) có 3 thể bệnh như sau: Bệnh Toxocara sp. nội tạng Bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng thường gặp ở trẻ từ 1 – 4 tuổi, khởi phát từ từ.
Bệnh nhân sốt nhẹ, thoáng qua, ăn ít, gầy yếu, tiêu chảy, buồn nôn, ói mửa, đau cơ và khớp. Ho khạc ra đàm có bạch cầu toan tính. Khó thở, gan to, bề mặt nhẵn, không đau, đôi khi lách hơi to.Bệnh có thể tự khỏi sau nhiều tuần lễ (khi ấu trùng chết). Ở người lớn, đôi khi không có triệu chứng, đôi khi sốt nhẹ, mệt, nổi mẩn đỏ, ngứa, khó thở dạng suyễn, có thể giảm thị lực một bên, soi đáy mắt thấy viên hạt ở võng mạc, viêm nội nhãn cầu mạn tính.