Mở đầu là khái niệm của chủ nghĩa trọng thương. Chủ nghĩa trọng thương quan niệm vàng bạc là thước đo đánh giá sự giàu có, uy tín và quyền lực của quốc gia. Chủ nghĩa này cho rằng thương mại giữa các nước là trò chơi có tổng bằng 0 (sero-sum game), tức 1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật http://moj.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=18140 7 thương mại chỉ phân chia lại tài sản vì tổng số của cải trên thế giới là không đổi. Kết quả là các nước ngày càng có xu hướng thực hiện các chính sách bảo hộ nội địa và hạn chế nhập khẩu bằng nhiều cách khác nhau như hạn ngạch và thuế quan… Tuy nhiên, sau đó Adam Smith và David Ricardo đã có những lập luận để bác bỏ tư tưởng này và khẳng định rằng thương mại là trò chơi mà các quốc gia tham gia đều thu được lợi ích, tức tổng lợi ích lớn hơn 0.
Adam Smith (1776) với lý thuyết về “Lợi thế tuyệt đối” cho rằng các quốc gia đều sẽ được hưởng lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế. Vì vậy, các quốc gia nên tiến hành trao đổi tự do trên cơ sở đẩy mạnh phân công lao động giữa các nước với nhau và các quốc gia nên thực hiện chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có lợi thế tuyệt đối (chi phí sản xuất thấp) để xuất khẩu và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối. Tuy nhiên, lý thuyết lợi thế tuyệt đối lại chưa giải thích được việc tại sao có sự tồn tại trao đổi thương mại giữa một nước lớn (có các lợi thế tuyệt đối) và một nước nhỏ (hầu như không có lợi thế). Lý thuyết của David Ricardo (1817) đã trả lời câu hỏi còn bỏ ngõ của Adam Smith.
Lý thuyết của David Ricardo khẳng định một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia, tức là dựa trên sự khác biệt giữa các nước về năng suất lao động. Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn còn tồn tại hạn chế là bỏ qua các yếu tố như hàng rào thương mại, chi phí vận chuyển, tỷ giá và chưa giải thích được sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia và vẫn chưa làm sáng tỏ được vấn đề lợi thế của các nước do đâu mà có? Do đó, nó không giải thích được triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại. Để trả lời những câu hỏi đó, hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển Eli Hecksher và B.Ohlin (1933) đã phát triển lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ưu đãi về các nguồn lực sản xuất vốn có. Lý thuyết H-O được xây dựng trên nền tảng là mức độ thâm dụng tài nguyên của các nước.
Lý thuyết của Heckscher-Ohlin đã giải thích nguồn gốc của lợi thế so sánh 8 dựa trên sản phẩm khác nhau ở tỷ lệ thâm dụng yếu tố sản xuất và các quốc gia có nguồn lực sản xuất sẵn có khác nhau (Leamer, 1995). Một quốc gia sẽ xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dư thừa và rẻ tương đối và nhập khẩu hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó khan hiếm và đắt tương đối. Như vậy, lý thuyết này đã giải thích được bản chất của trao đổi thương mại là sự trao đổi các yếu tố dư thừa để lấy các yếu tố khan hiếm. Như vậy, đại diện cho các học thuyết thương mại cổ điển, lý thuyết của Adam Smith, Ricardo và Heckscher-Ohlin giúp giải thích hoạt động thương mại quốc tế diễn ra như thế nào.
Tuy nhiên, mỗi lý thuyết đều tồn tại những hạn chế và có giả định điều kiện cụ thể mới giải thích được. Với sự phát triển của thương mại quốc tế hiện đại, Michael Porter đã đưa ra lý thuyết về “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1979. Khác với lý thuyết lợi thế so sánh, Michael Porter xây dựng mô hình kim cương gồm 4 nhân tố cơ bản để giải thích tại sao một số quốc gia duy trì được lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong điều kiện hiện nay bao gồm: chiến lược cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp, các điều kiện về cầu, ngành công nghiệp liên quan và bổ trợ, và cuối cùng là điều kiện về yếu tố sản xuất. Việc trình bày các học thuyết này chứng minh xuất khẩu là hoạt động sống còn của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Vai trò của xuất khẩu Qua việc trình bày các học thuyết thương mại phía trên có thể xác định thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói riêng là một phần không thể thiếu cho sự phát triển của một quốc gia. - Xuất khẩu giúp phát huy được những lợi thế vốn có như tài nguyên, nhân công.; tận dụng được các nguồn lực còn hạn chế từ các nước phát triển như kỹ thuật, công nghệ, quản lý. - Góp phần tạo nguồn vốn để chủ động, hạn chế phụ thuộc vào các khoản vay nợ từ nước ngoài. 9 - Xuất khẩu giúp mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, tạo cơ hội cho hàng hoá Việt Nam vươn ra khỏi phạm vi quốc gia, giải quyết được vấn đề thất nghiệp và cải thiện đời sống xã hội.
- Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. - Xuất khẩu là cơ sở tạo chỗ đứng cho Việt Nam trên trường quốc tế, mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Các mô hình đo lường tác động nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Việc xác định các nhân tố tác động đến giá trị xuất khẩu là vấn đề cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học để ra các quyết định. Không chỉ dừng lại ở việc xác định định tính các yếu tố này, các nghiên cứu còn cố gắng lượng hoá mức độ tác động của nó.
Những mô hình nghiên cứu sau đây được đánh giá là đo lường hiệu quả tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu và có ý nghĩa kinh tế cao. Mô hình cung xuất khẩu (Supply Export Model) Mô hình cung xuất khẩu hàng hóa được phát triển bởi Goldstein và Khan (1978) trong tác phẩm “The Supply and Demand for Exports: A Simultaneous Approach. The Review of Economics and Statistics”. Theo mô hình này, giá trị xuất khẩu của một nước chịu tác động bởi hai yếu tố là tỷ lệ giữa giá xuất khẩu trên giá sản xuất và khối lượng hàng hóa sản xuất của nước đó.
Ưu điểm của mô hình là cho thấy được các yếu tố tác động đến lượng cung xuất khẩu, tuy nhiên nó lại chưa phù hợp để lượng hóa các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau, vì mô hình này chỉ phản ánh các yếu tố mang tính chủ quan của nước xuất khẩu, chưa đề cập đến các yếu tố khách quan tác động ra sao, như các yếu tố liên quan đến nước nhập khẩu, cạnh tranh quốc tế,. Mô hình cầu nhập khẩu (Demand Import Model) Mô hình cầu nhập khẩu hàng hóa cũng được phát triển bởi Goldstein và Khan (1978) trong tác phẩm “The Supply and Demand for Exports: A Simultaneous Approach. The 10 Review of Economics and Statistics”. Theo mô hình này, lượng cầu nhập khẩu hàng hóa của thế giới từ một nước xuất khẩu chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là tỷ lệ giữa giá xuất khẩu của nước xuất khẩu trên giá thế giới và mức thu nhập của thế giới.
Mặc dù so với mô hình cung xuất khẩu, mô hình này phản ánh được cơ bản yếu tố giá xuất khẩu của nước xuất khẩu và yếu tố mức thu nhập, giá trong nước của nước nhập khẩu, phản ánh được đồng thời các yếu tố khách quan lẫn chủ quan nhưng chỉ có ba yếu tố trên chưa phản ánh được đầy đủ hoạt động xuất khẩu. Mô hình lực hấp dẫn (Gravity model) trong thương mại quốc tế Vào thế kỷ XVII, Isaac Newton đã phát minh ra định luật lực hấp dẫn. Đây là một trong những định luật có đóng góp quan trọng trong các lý thuyết về khoa học tự nhiên. Theo định luật, lực hấp dẫn giữa hai vật bằng tích hai khối lượng của vật chia cho bình phương của khoảng cách giữa hai vật.
Phương trình của lực hấp dẫn như sau: Xij= G(Mi*Mj/D2ij) Trong đó: +Xij: lực hấp dẫn; +G: hằng số; +M: khối lượng của vật; +D: khoảng cách giữa hai vật; Trên nền tảng định luật, nhiều nhà khoa học sau đó đã phát triển các lý thuyết để dự báo xu hướng về thương mại, đo lường tác động của các FTA, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữa các quốc gia, các hiện tượng nhập cư, du lịch… Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) là hai nhà nghiên cứu đầu tiên sử dụng mô hình lực hấp dẫn vào lĩnh vực thương mại quốc tế. Mô hình được thiết kế để đo lường giá trị xuất khẩu giữa hai quốc gia với nhau. Mô hình biểu diễn thương mại cơ bản của Timbergen (1962) giữa hai nền kinh tế A và B được phát biểu theo công thức sau: TradeAB = G * (MA*MB/DAB) (1) Trong đó: 11 TradeAB: Giá trị xuất khẩu giữa hai nước A và B MA và MB: Quy mô nền kinh tế của quốc gia A và B. GDPA đại diện cho khả năng sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
GDPB đại diện cho mức thu nhập bình quân của nước nhập khẩu. DAB: Khoảng cách địa lý giữa hai nước A và B. Khoảng cách địa lý được tính từ thủ đô hoặc trung tâm kinh tế của A đến thủ đô hoặc trung tâm kinh tế của B, đại diện cho chi phí vận chuyển và thời gian giao hàng. Logarith (ký hiệu L) cả hai vế phương trình (1), chuyển đổi thành một công thức tuyến tính sử dụng cho phân tích kinh tế lượng như sau: Ln(TradeAB) = G + β1Ln(GDPA) + β2Ln(GDPB) + β3Ln(DISAB) + ε Trong đó: TradeAB: Giá trị xuất khẩu giữa hai nước A và B GDPA và GDPB: Quy mô nền kinh tế của quốc gia A và B.
GDPA đại diện cho khả năng sản xuất hàng hóa xuất khẩu. GDPB đại diện cho mức thu nhập bình quân của nước nhập khẩu. DAB: Khoảng cách địa lý giữa hai nước A và B. Khoảng cách địa lý được tính từ thủ đô hoặc trung tâm kinh tế của A đến thủ đô hoặc trung tâm kinh tế của B, đại diện cho chi phí vận chuyển và thời gian giao hàng.