Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản Nhân thân người phạm tội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như: Tội phạm học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tâm lý học, Giáo dục học… Mỗi ngành khoa học nghiên cứu nhân thân người phạm tội dưới những góc độ, mục đích, cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách lý giải, định nghĩa khác nhau về phòng chống tình hình tội phạm. Theo tâm lý học tư pháp và tâm thần học thì nghiên cứu nhân thân người phạm tội là để xác định năng lực trách nhiệm hình sự nhằm xử lý những người phạm tội mà người mắc các bệnh về tâm lý, tâm thần [48, tr. Luật hình sự nghiên cứu nhân thân người phạm tội để xác định có tội hay không có tội, để định tội, xác định khung hình phạt cũng như quyết định hình phạt hay nói cách khác là nhằm đánh giá hành vi phạm tội, trách nhiệm hình sự và quyết định biện pháp xử lý hình sự đối với người phạm tội theo luật hình sự [16, tr.
Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm nhận thức rõ hơn tình hình tội phạm cũng như hiểu rõ về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm. “…không thể nhận thức sâu sắc tình hình tội phạm nếu không có những hiểu biết về những người thực hiện tội phạm, không thể hiểu được nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nếu không thấy được mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa môi trường và người phạm tội”[52, tr.94] Mặc dù có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau với nhiều mục đích khác nhau như trên, nhưng xét về bản chất, người phạm tội trước hết là một con người cụ thể, vì vậy để đưa ra một cách khái quát và đầy đủ định nghĩa về nhân thân người phạm tội đòi hỏi phải làm sáng tỏ hai vấn đề cơ bản: đó là nhân thân con người là gì và thế nào là người phạm tội. Khi nói đến nhân thân là nói đến thực thể con người với tính cách là một 9 thành viên trong xã hội, một thực thể trong xã hội như một con người tham gia vào những quan trong hệ xã hội. Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [5, tr.
Con người được sinh ra tự nhiên do đó trước hết con người mang các đặc tính tự nhiên, đặc tính sinh học. Tuy nhiên, con người sống trong xã hội lại luôn chịu sự chi phối của xã hội, mà cụ thể là sự chi phối của tất cả các cá nhân khác cùng chung sống trong xã hội. Con người từ khi sinh ra là thực thể sinh vật, tồn tại đòi hỏi phải có quá trình hoạt động trong xã hội, con người sống trong xã hội luôn có quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất cũng như quá trình sinh hoạt [35, tr. Như vậy, trong mỗi con người luôn tồn tại hai đặc tính sinh học và xã hội có mối quan hệ tương tác với nhau để hình thành nên nhân thân con người, trong đó đặc tính xã hội giữ vai trò quyết định.
Thứ hai, Theo Luật hình sự người phạm tội được hiểu là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Luật hình sự [52, tr. Do đó tội phạm luôn được thực hiện bởi một con người cụ thể nhưng nên hiểu không phải ai cũng thực hiện tội phạm, hay nhìn theo cách khác không phải người nào cũng có thể trở thành người phạm tội. Vì thế, nhân thân người phạm tội có những điểm khác nhau, có tính riêng biệt mà người không phạm tội không có. Với người phạm tội có đặc trưng là tính nguy hiểm cho xã hội trong hành vi của họ.
Đối với con người tồn tại trong xã hội có đặc điểm riêng và có cuộc sống khác nhau, nhưng mỗi con người không phải sinh ra là có thể trở tội phạm, mà trong quá trình sống đặc điểm nhân thân của họ mới được hình thành và phát triển trong xã hội theo cả hai hướng: tốt và xấu. Do đó sự tồn tại đồng thời của cái tốt và cái xấu mà có người trở thành tội phạm còn người khác thì không. Những đặc điểm thuộc về nhân thân con người nếu gặp những điều kiện, hoàn cảnh không thuận lợi của quá trình hình thành nhân cách sẽ trở thành những đặc điểm nhân thân xấu, những đặc điểm nhân thân xấu này khi gặp những tình huống bên ngoài thuận lợi sẽ dễ làm phát sinh hành vi phạm tội. Tóm lại, từ những nhận định nêu trên thì có thể định nghĩa nhân thân người phạm tội: Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm sinh học, tâm lý 10 và xã hội của người phạm tội, các đặc điểm này kết hợp với các điều kiện hoàn cảnh khách quan bên ngoài dẫn con người đó đến việc thực hiện hành vi phạm tội [48, tr.
TS Võ Khánh Vinh: “Nhân thân người phạm tội tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó”[7, tr. - Theo TS Nguyễn Mạnh Kháng: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc tính, các dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người mà trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và dưới sự tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó động cơ phạm tội nảy sinh”[52, tr. Tất cả những định nghĩa trên mặc dù có những điểm khác nhau, nhưng đều thống nhất cho rằng, nhân thân người phạm tội là “tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội” và các dấu hiệu, đặc điểm này, “trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài” sẽ làm phát sinh hành vi phạm tội. Trên cơ sở sự thống nhất về định nghĩa nhân thân người phạm tội nói trên, có thể rút ra định nghĩa nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản như sau: Nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản là tổng hợp các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội mà trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài làm phát sinh hành vi phạm tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 136 BLHS năm 1999, nay là Điều 171 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017.
Các đặc điểm nhân thân của người phạm tội cướp giật tài sản Nhân thân người phạm tội là khái niệm khái quát nhiều đặc điểm khác nhau của một con người. Nhân thân của những người phạm các nhóm tội, tội danh khác nhau sẽ có những đặc thù khác nhau, bởi mỗi loại hành vi phạm tội đều có cơ chế hành vi phạm tội khác nhau phù hợp với đặc thù của từng hành vi phạm tội. Đặc điểm độ tuổi, giới tính Tội cướp giật tài sản được hiểu là người phạm tội thực thực hiện hành vi một 11 cách nhanh chóng để chiếm đoạt tài sản một cách công khai[47, tr.27 Đặc thù của hành vi phạm tội là lợi dụng sơ hở của nạn nhân để “công khai”, “nhanh chóng chiếm đoạt tài sản” và nhanh chóng tẩu thoát. Đặc thù hành vi phạm tội này cho thấy, người phạm tội trước hết phải là những người trẻ tuổi, thường ở độ tuổi dưới 30 tuổi, đặc biệt là những người nằm trong nhóm tuổi từ 18 đến 30, bởi vì những người nằm trong nhóm tuổi này là độ tuổi mới lớn, độ liều lĩnh, táo bạo, manh động, nghề nghiệp chưa có hoặc chưa ổn định nên khi cần tiền là sẵn sàng thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Chính vì vậy, mặc dù BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã thu hẹp đáng kể phạm vi chịu TNHS của người dưới 14 tuổi so với BLHS 1999, nhưng theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015, sửa đổi 2017 thì người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi vẫn phải chịu TNHS về tội cướp giật tài sản tại các khoản 2, 3, 4 Điều 171 BLHS 2015, sửa đổi 2017. Những người phạm tội cướp giật tài sản do đặc điểm đặc trưng của hành vi phạm tội là “công khai” và “nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác” nên đặc thù giới tính thực hiện hành vi phạm tội này đa số là nam giới. Nữ giới nếu có tham gia vụ đồng phạm cũng chỉ giữ vai trò người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cũng đã xuất hiện những vụ phạm tội cướp giật tài sản do nữ giới là người chủ mưu, người tổ chức hoặc nữ giới chính là người thực hành.
Tuy nhiên, số nữ giới thực hiện hành vi cướp giật tài sản vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số người phạm tội. Đặc điểm trình độ học vấn, nghề nghiệp Hành vi cướp giật tài sản luôn thể hiện tính nguy hiểm cao trong xã hội, khả năng che dấu tội phạm thấp, đồng nghĩa với nó là hành vi này luôn đe dọa bị sự trừng trị nghiêm khắc, kịp thời của pháp luật. Thông thường, những người có trình độ học vấn cao và nghề nghiệp ổn định sẽ không thực hiện hành vi phạm tội loại này. Chỉ những người thất học, trình độ học vấn thấp, không nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, trong điều kiện bế tắc, cần tiền mới làm liều, thực hiện hành vi phạm tội.
Hoàn cảnh gia đình Qua nghiên cứu đặc điểm hoàn cảnh gia đình trong nhân thân người phạm tội cướp giật tài sản ở các khía cạnh: Mối quan hệ gia đình, hoàn cảnh kinh tế thì có những tác động rất nhiều tới người phạm tội cướp giật tài sản. Trong quan hệ gia đình có quan hệ gần gũi, ấm cúng, cách cử xử văn minh, nhân ái với nhau, mỗi thành viên luôn nêu cao trách nhiệm với gia đình có ý nghĩa rất lớn tới việc kiểm soát hành vi, định hướng hành vi của mỗi người, giúp hạn chế những hành vi tiêu cực xảy ra. Gia đình thiếu sự quan tâm đến con cái là một trong những hoàn cảnh gia đình rất dễ tạo điều kiện hình thành các đặc điểm nhân thân tiêu cực ở con người nói chung và ở người phạm tội cướp giật tài sản nói riêng.