Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu nhân giống tre A. Ramanatha, (2000) cho biết nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có hiệu quả với hầu hết các loài tre.
Nhân giống bằng giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng được, có tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp tốt cho các vườn gieo ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang. Nghiên cứu cũng đánh giá rằng các cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn các cành nhỏ. Các rễ khí sinh thường ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm.
Khả năng ra rễ của các loài khác nhau là khác nhau và phụ thuộc vào kích thước của đoạn và độ dày của vách. Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cấp dinh dưỡng nhiều hơn trong đoạn giâm hom. Tác giả nghiên cứu cho loài Bambusa vulgaris và đưa ra phương pháp nhân giống sinh dưỡng với quy mô lớn như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi là nguồn cung cấp vật liệu tốt nhất. Hom bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt sát ở cổ.
Cành cắt được cho vào túi bầu polyethene thích hợp bao gồm đất ở trên và xơ dừa vụn với tỷ lệ 1:5. Nước được tưới thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cho vào túi, khả năng ra chồi và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian 3-4 tuần sau đó. China National Bamboo Research Center, (2001) cho thấy: sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10%. Cành sử dụng giâm hom là cành của cây 1 năm tuổi, có trên 2 mắt phía trên của cành, đường kính cành khoảng trên 1cm, chiều dài cành cắt khoảng 30cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ, cành để lại 3-5 lá.
Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng sự, (2000) về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi. Cành cắt có độ dài 40-50 cm có từ 2 hoặc 3 đốt, cành nên được đặt nghiêng so với luống và lấp đất ở độ sâu 5-6 cm, để đầu trên của cành lên khỏi mặt đất. Luống giâm nên được che phủ bằng lá và tưới nước. Tác giả cho rằng, nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không hoặc có rất ít Luan van 5 tổn thương cho cây mẹ và khả năng ra măng của nó.
Nhân giống có thể thực hiện tốt vào tháng 2 đến tháng 9, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng cho giâm hom có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí thấp về giá cả. Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu của China National Bamboo Reaserch Center, (2008) về giâm hom sử dụng cành cho thấy nên thực hiện vào mùa xuân tháng 3-4 vì nhiệt độ và độ ẩm tăng, thuận lợi cho tre nảy chồi và măng không mọc thời gian này, do đó cây giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom vì vậy cho tỷ lệ sống cao. Vào mùa thu nhiệt độ quá cao và măng đã lên, chất dinh dưỡng kém.
Nếu sử dụng cành trong thời gian này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng không ra rễ, vì vậy tỷ lệ sống rất thấp. Giâm hom bằng cành nên chọn những cành chính tròn mập, mắt khoẻ từ 3 năm tuổi, đường kính lớn hơn 1cm ở lóng cành. Đoạn cành được ngâm trong nước hoặc ở nơi râm mát sau khi ngâm vào NAA (20-100 ppm) trong 12 giờ. Tạo rãnh 30cm và để cành theo khoảng cách 15-18 cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có lá ra ngoài.
Giẫm đất xung quanh và phủ rơm, tưới nước, mật độ giâm hom là 120.000 cành trên ha. Razvi và cộng sự, (2015) đã thí ngiệm giâm hom cành loài Dendrocalamus giganteus ở Ấn Độ với 3 loại thuốc kích IAA, IBA, NAA ở 3 nồng độ 100, 200 và 500 ppm ở 4 mùa (Xuân, Mùa mưa, mùa thu và mùa đông) cho thấy: Tỷ lệ ra rễ cao nhất ở công thức đối chứng ở mùa mưa đạt 63,3%, trong các loài thuốc sử dụng trong mùa này thì IBA 500ppm đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất là 55,0%. Mùa có tỷ lệ ra rễ cao thứ 2 là mùa xuân với tỷ lệ ra rễ cao nhất ở công thức đối chứng đạt 55,83%, công thức IBA 500 ppm ở mùa này cao nhất đạt 50,83%. Ở mùa thu công thức IBA 200 ppm đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất 54,5%, sau đến IBA 500ppm là 45%, công thức đối là 44,5, còn các công thức khác dưới 40%.
Ở mùa đông, không có công thức nào có hom cành ra rễ. Razvi và cộng sự, (2017) thí nghiệm hom cành 2 đốt loài Dendrocalamus gigantus dưới điều kiện tự nhiên bằng xử lý thuốc kích thích IAA, NAA, IBA với các nồng độ 100, 200 và 500 ppm trong thời gian 24 giờ cho thấy: tỷ lệ ra rễ cao nhất chỉ đạt 40,42% ở công thức đối chứng, sau đến công thức IBA 500 ppm là 37,71% và thấp nhất ở công thức NAA 500ppm là 28,12%. Hossain và cộng sự, (2018) đã thí nghiệm giâm hom cành loài Mạnh tông (D.asper ) ở Malysia bằng thuốc IBA nồng đồ 2000 ppm, 4000 Luan van 6 ppm, 8000 ppm trong thời gian 5 phút và công thức đối chứng cho thấy: Tỷ lệ ra rễ các công thức rất cao trên 80% ngay cả đối với công thức đối chứng, cao nhất ở công thức IBA 4000 ppm đạt 95,2% số hom ra rễ. Victor Cusack, (1997) đã nghiên cứu sử dụng hom thân kết quả cho thấy: tỷ lệ thành công khi nhân giống bằng hom thân là khác nhau giữa các loài tre và phụ thuộc vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất nên vào mùa xuân.
Ở phương pháp này, chọn một cây trưởng thành khoảng 2-3 năm tuổi với các đoạn cắt ở chiều dài 1,5-2 m, cắt tất cả các cành và lá, có thể để một cành dài hơn ở một số đốt. Đoạn hom thân được giâm trong rãnh đất ở độ sâu 150mm, các cành dài để nhô ra khỏi mặt đất, nước nên được tưới hàng ngày trong tuần đầu, sau đó 2 lần một tuần trong khoảng 3 tuần tiếp theo, và thường xuyên giữ đất ẩm ở những tuần kế tiếp. Sau 4 tuần những cành và lá sẽ được phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát triển và tạo thân ngầm và măng mới. Tác giả đưa ra 2 loại hom có thể sử dụng là hom thân 1 đốt hoặc 2 đốt.
Ramanatha Rao, (2000) nghiên cứu về giâm hom sử dụng hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loài tre có vách dày và kích thước lớn (8-12cm đường kính) như loài Bambusa blumeata. Những cây 1 năm tuổi sử dụng phù hợp cho giâm hom, cắt đoạn hom để 1 hoặc 2 đốt. Hom được cắm xuống với một góc 450 và độ sâu 20 cm trong môi trường ra rễ. Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên.
Thực hiện tưới nước 2 lần/ngày và chồi mới có thể mọc sau 2-4 tuần sau đó. Nước, thuốc chống nấm và thuốc trừ sâu thường xuyên được ứng dụng trong 6-12 tháng trước khi ra ngôi. Tuy nhiên, tác giả nhận định phương pháp này là không phổ biến vì có chi phí đắt, thêm vào có sự giới hạn trong sử dụng hom thân 1 năm tuổi, cần đưa thêm cách nhân giống khác. Nghiên cứu của Fu Maoyi và cộng tác viên, (2000) về nhân giống bằng hom thân 1 đốt cho thấy, cắt hom có thể thực hiện từ cây 1 hoặc 2 năm tuổi, cây được cắt khúc để lại 1-2 lóng.
Nếu cây mẹ có đường kính 4 cm, có thể cho ra 10 đốt dùng được và cây mẹ lớn hơn 6 cm có thể duy trì 15-20 đốt. Sau khi chuyên chở đến vườn ươm, đốt đơn được cắt cẩn thận không làm tổn thương tới mắt. Giữ ở vị trí từ mắt đốt tới bên phải và bên trái 6-9 cm và tưới nước sau khi phủ cỏ trên luống. Tác giả cho rằng nhân giống các loài tre có vách mỏng bằng cắt khúc thường kém thành công Luan van 7 và không hiệu quả vì vậy khó sử dụng trong mô hình nhân giống lớn.
Nó phù hợp với loại tre có vách dày và kích thước lớn. Mặc dù rất nhiều mắt đốt có thể nảy mầm nhưng chỉ khoảng 30% trong số mắt sống sót sau cùng. Cộng sự này còn đưa thêm một phương pháp nhân giống bằng hom thân có 2 đốt, Loại khúc cắt này được lấy và xử lý tương tự như khúc một đốt, nhưng nó bao gồm 2 đốt và được vùi trong đất với 2 mắt về bên trái và bên phải. Nhân giống với 2 đốt có thể làm tỷ lệ sống của cây cao hơn so với loại 1 đốt nhưng thấp hơn so với toàn bộ cây.
Trồng sử dụng đoạn cắt đơn hoặc 2 đốt có thể không được đưa vào với quy mô lớn vì hiệu quả lao động thấp. Singh và cộng sự, (2004) đã nghiên cứu nhân giống Dendrocalamus asper ở Ấn Độ bằng hom thân 1 đốt với các loại thuốc IBA, NAA, IAA với nồng độ 2 mM trong 24 giờ cho thấy: Loài thuốc NAA cho tỷ lệ rễ trung bình của 3 lần giâm hom tháng 4,5,6 là cao nhất (41,7%), sau đến IBA (34,4%), IAA (33,9%), và thấp nhất ngâm với nước (30,6%). Tỷ lệ ra rễ cao nhất vào tháng 5 đạt 93,3% với NAA và IAA, còn IBA (86,7%), công thức ngâm nước có tỷ lệ ra rễ cao hơn xử lý thuốc đạt 98,3% nhưng có số lượng rễ ít hơn hẳn xử lý thuốc kích thích ra rễ. Giâm hom thân vào tháng 4 có tỷ lệ ra rễ thấp nhất, cao nhất cũng chỉ đạt 33,3% đối với thuốc kích thích NAA và không ra rễ khi xử lý thuốc IAA và ngâm với nước.
Gulabrao và cộng sự, (2012) nghiên cứu ảnh hưởng thời vụ đến khả năng ra rễ của hom thân của 8 loài tre ở Ấn Độ cho thấy: thí nghiệm hom thân 2- 3 đốt, không sử dụng thuốc kích thích ra rễ thì tỷ lệ ra rễ cao nhất vào Tháng 3 (mùa xuân), sau đến tháng 6 (mùa hè), và thấp nhất tháng 8 (mùa mưa). Loài Dendrocalamus giganteus có tỷ lệ ra rễ vụ xuân (đạt 73,33%) cao hơn hẳn mùa hè (13,33%) và mùa mưa (13,33%).