Đặt vấn đề Chùm ngây có tên khoa học là Moringa oleifera L. Là một loài cây đa tác dụng nên còn gọi là cây “Thần diệu” (Miracle Tree), cây “Độ sinh” (Tree of Life). Cây Chùm ngây có xuất sứ từ vùng Nam Á, phổ biến ở cả châu Á và châu Phi. Giá trị sử dụng của cây Chùm ngây được chia làm hai nhóm chính: (1) sử dụng làm thuốc chữa bệnh, (2) sử dụng làm nguồn lương thực giàu chất dinh dưỡng.
Tổ chức lương thực thế giới (FAO) và tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo trồng và sử dụng loài cây này là giải pháp ưu việt cho các bà mẹ thiếu sữa, trẻ em suy dinh dưỡng và là giải pháp lương thực cho “ thế giới thứ ba ” nên cây Chùm ngây được trồng và nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các bộ phận của cây Chùm ngây như: lá, hoa, thân, vỏ, bộ rễ chứa nhiều khoáng chất quan trọng, rất giàu chất đạm, Vitamin C, beta-caroten, acid amin và một hỗn hợp gồm các chất rất hiếm trong hệ thực vật như: zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquinic acid, kaempferol,. Trong cây Chùm ngây có hơn 90 chất dinh dưỡng tổng hợp và các chất khoáng đa dạng không kém các sản phẩm từ động vật. Đặc biệt, trong lá Chùm ngây rất giàu dinh dưỡng, hàm lượng Vitamin C cao hơn 7 lần so với Vitamin C trong quả cam, hàm lượng Vitamin A cao hơn 4 lần so với Vitamin A trong củ cà rốt, hàm lượng caxi cao hơn 4 lần so với caxi trong sữa, kali (potassium) cao gấp 3 lần so với chuối, sắt cao gấp 3 lần so với cải bó xôi, và ngay cả protein cũng cao gấp 2 lần trong sữa.
Giá trị làm thuốc của cây Chùm ngây đã được khoa học chứng minh là có khả năng chống viêm, kháng khối u, đặc biệt là những khối u ở vùng bụng ( Harwell et al., 1967-1971), kháng sinh n 2 và chống nấm (Chuang et al.,2001), kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, làm giảm lượng cholesterol trong máu (Mehta et al., 2003 ), chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, trị tiểu đường, bảo vệ gan. Riêng hạt và hoa Chùm ngây có tác dụng chữa các triệu chứng về gout, huyết áp, giảm stress, tăng cường sinh lực (theo Bác sĩ Đông Y Nguyễn Văn Nghị - Bệnh Viện Y dược cổ truyền Đồng Nai ), kích thích tiêu hóa, trị tiêu chảy, kiết lỵ, viên phổi, trị suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, giúp ổn định huyết áp, trị u xơ tiền liệt tuyến, ngừa thai. Bên cạnh đó Cây Chùm ngây còn là nguồn thực phẩm cung cấp chất dinh dưỡng tuyệt vời, lá Chùm ngây được dùng để nấu canh cho bữa ăn hàng ngày, quả non được dùng như đậu cô ve, rễ được dùng làm gia vị, hoa phơi khô có thể dùng lấy nước uống như một loại trà, hạt khô có thể rang ăn (như lạc). Ngoài ra Cây Chùm ngây còn được dùng để lọc nước, làm nước giải khát, phòng hộ và là nguồn nguyên liệu hoàn hảo cho ngành mỹ phẩm.
Hiện nay ở Việt Nam cây Chùm ngây được trồng ở nhiều địa phương trong cả nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng, giá trị dược liệu của cây Chùm ngây. Tuy nhiên, các nghiên cứu về nhân giống, sinh trưởng của cây Chùm ngây còn rất hạn chế. Để giúp cho việc trồng trọt cây Chùm ngây đạt hiệu quả kinh tế cao , chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng nhân giống và sinh trƣởng của Cây Chùm ngây trong vụ xuân tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên ” 1. Mục đích đề tài - Góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống cây Chùm ngây.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của Cây Chùm ngây nhằm xác định được thời vụ nhân giống thích hợp, phù hợp với điều kiện, thời vụ tại Thái Nguyên. Mục tiêu của đề tài - Xác định được khả năng nảy mầm và hình thành cây của cây Chùm ngây trong vườn ươm - Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Chùm ngây trong vườn ươm và bước đầu trong vườn sản xuất. - Xác định đặc điểm hình thái của cây Chùm ngây. - Đánh giá, điều tra một số loại sâu bệnh hại cây Chùm ngây trong giai đoạn vườn ươm và bước đầu ra vườn sản xuất.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý trong học tập và nghiên cứu khoa học Giúp sinh viên hệ thống hóa, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, nâng cao trình độ, tiếp cận với tiến bộ khoa học. Những kết quả của đề tài bổ sung vào tài liệu khoa học mới về khả năng nhân giống và sinh trưởng của Cây Chùm ngây. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho việc nhân giống và sinh trưởng của cây Chùm ngây đạt hiệu quả cao thích hợp vào sản xuất đại trà phù hợp với điều kiện thời vụ tỉnh Thái Nguyên.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Giới thiệu về cây Chùm ngây Cây Chùm ngây ( moringa o leifera lam ) vừa là nguồn dược liệu, vừa là nguồn thực phẩm phong phú và quý hiếm. Lá, hoa, quả, thân, vỏ, rễ của Chùm ngây chứa khoáng, chất đạm, vitamin, beata-carotene, acid amin và nhiều hợp chất khác. Ngoài khả năng lọc nước và giá trị dinh dưỡng cao, cây Chùm ngây (moringa o leifera lam) còn là nguồn dược thảo quan trọng trong việc ngăn ngừa và điều trị rất nhiều căn bệnh, các bộ phận của cây có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống ung bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viên, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm. cây đã dược trị nhiều bệnh trong y học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á.
Tại Việt Nam, Cây Chùm ngây được Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây - Rau thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam nhập hạt giống từ tháng 3/1989 với mục đích là phát triển thành loại rau mới ở Việt Nam. Do đó, việc gây trồng và phát triển cây Chùm ngây phục vụ và cung cấp chất dinh dưỡng cho người dân là điều cần thiết.1 Nguồn gốc và phân loại a. Nguồn gốc Cây Chùm ngây có nguồn gốc xuất xứ ở vùng sơn cước Hi Mã Lạp Sơn ở Tây bắc Ấn Độ, có lịch sử hơn 4 ngàn năm, nhưng phổ biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi. Nhưng ngày nay được trồng rộng rãi ở Châu Phi, Trung Mỹ, Nam Mỹ, và Đông Nam Á (Campuchia, Malaysia, Indonesia ).
n 5 Ở Việt Nam cây Chùm ngây được phát hiện mọc hoang ở một số nơi như Phú Quốc, Kiên Giang. và đã được trồng từ lâu ở Nha Trang, Phan Thiết, Phú Quốc. Phân loại Ngành Ngọc lan: Magnoliophyta Lớp Ngọc lan: Magnoliopsida Bộ Chùm ngây: Moringales Họ Chùm ngây: Moringaceae Chi : Moringa Loài : Moringa oleifera Lam. Đặc điểm hình thái cây Chùm ngây Theo các tài liệu [1], [2], [3], [5], [11], [12], [15], Cây Chùm ngây, tên khoa học là Moringa oleifera lam, là loài cây gỗ nhỏ nửa rụng lá, thuộc họ Moringaceae.
Cây Chùm ngây có dạng sống là cây phân cành thấp, cao từ 10 – 12m. Hệ thống rễ phát triển mạnh, nếu được trồng từ hạt, rễ cái phình to như củ, màu trắng với hệ thống những rễ bên thưa, dài, đâm sâu, lan rộng. Nếu trồng bằng cách giâm cành hệ thống rễ không được như vậy. - Thân: Là cây thân gỗ nhỏ, vỏ có màu trắng xám, dày, mềm, sần sùi, nứt nẻ, gỗ mềm, sau chuyển dần thành nâu.
- Lá: lá kép lông chim 3 lần, lá trưởng thành có thể dài đến 45 cm, rộng 20 – 30 cm. Các lá phụ dài khoảng 1,2 – 2,5 cm, rộng 0,6 – 1 cm. - Hoa: Cụm hoa to, dạng hơn giống hoa đậu, tràng hoa gồm 5 cánh, màu trắng, vểnh lên, rộng khoảng 2,5 cm. Bộ nhị gồm 5 nhị thụ xen với 5 nhị lép, bầu noãn 1 buồng do 3 lá noãn, đính phôi trắc mô.
Hoa có mùi thơm thoang thoảng. n 6 - Quả: quả dạng nang treo, dài 20-50 cm, có quả dài đến 1 m nhưng rất hiếm, rộng 2 – 2,5 cm, khi khô mở thành 3 cánh dày. - Hạt: Hạt nhiều ( khoảng 26 hạt/trái ), tròn dẹp, màu nâu hoặc đen, đường kính khoảng 1 cm, mỗi hạt có 3 góc cạnh với những cánh mỏng màu hơi trắng, trọng lượng mỗi hạt khác nhau, trung bình khoảng 3. Cây Chùm ngây thuộc loài mọc nhanh, phát triển nhanh chóng ở những vùng có điều kiện thuận lợi, có thể tăng trưởng chiều cao từ 1 – 2 m/năm trong vòng 3 đến 4 năm đầu.
Tuy nhiên trong một thử nghiệm tại tanzania, cây trồng từ hạt có thể đạt chiều cao trung bình 4,1 m trong năm đầu tiên. Cây bắt đàu cho quả từ thân và nhánh sau 6 đến 8 tháng trồng, quả sẽ chín sau khi hoa nở khoảng 2 tháng. Đặc điểm sinh sản, tái sinh, nhân giống Theo các tài liệu [1], [2], [3], [13], [14] ở cây Chùm ngây, mùa ra hoa tùy thuộc vào kiện môi trường nơi phân bố. Ở vùng lạnh như Bắc Ấn Độ, Chùm ngây chỉ ra hoa một lần vào tháng 4 – 6, còn ở Nam Ấn Độ thì cây đặc biệt ra hoa hai lần trong năm.
Những vùng có nhiệt độ và lượng mưa tương đối ổn định quanh năm thì cây có thể ra hoa gần như quanh năm như ở các đảo thuộc Vịnh Ca – ri – bê. Cây ra hoa sớm, thường ngay trong năm đầu tiên, khoảng 6 – 8 tháng sau khi trồng. Cây cho hạt giống có chất lượng tốt trong khoảng 12 năm đầu. Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước, hoặc được mang đi bởi những loài động vật ăn hạt.
Khả năng nảy mầm của hạt còn mới là 60 – 90%. Tuy nhiên khả năng này không giữ được nếu hạt được lưu giữ ở điều kiện thường quá 2 tháng. Tỷ lệ nảy mầm là 60%, 48% và 75% tương ứng với thời gian lưu trữ hạt là 1, 2 và 3 tháng ( kết quả thử nghiệm ở Ấn Độ). n 7 Cây có thể trồng bằng hạt hoặc bằng cách giâm cành: Trồng bằng hạt là phương pháp dễ dàng nhất.
Cây trồng bằng hạt có sức sống cao, tuy nhiên trong giai đoạn còn non, cây yếu nên cần được chăm sóc trong điều kiện bóng mát. Biện pháp giâm cành cũng có thể thực hiện tuy nhiên hiệu quả không bằng giâm hạt, thường tiến hành giâm cành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ ẩm thích hợp.