Luận văn thạc sĩ nghiên khả năng nhân giống cây bình vôi stephania rotunda lour bằng phương pháp in vitro

Nghiên cứu nhân giống cây bình vôi Stephania Rotunda Lour bằng phương pháp in vitro, ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại để bảo tồn và phát triển loài dược liệu quý.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.1.1. Mục tiêu đề tài

1.1.2. Yêu cầu đề tài

1.1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học
1.1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu chung về chi Bình vôi

2.1.1. Nguồn gốc Chi Bình vôi (Stephania)

2.1.2. Phân loại Chi

2.1.3. Đặc điểm hình thái và phân bố

2.1.4. Giá trị của cây Bình Vôi

2.1.4.1. Giá trị về kinh tế
2.1.4.2. Giá trị về dược liệu

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

3.3. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất

3.4. Nội dung nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Chuẩn bị môi trường nuôi cấy invitro

3.5.2. Nội dung nghiên cứu

3.5.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.5.4. Xử lí số liệu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng nồng độ và thời gian sử dụng chất khử trùng HgCl2 đến khả năng tạo vật liệu vô trùng cho nuôi cấy in vitro

4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của Cytokinine và Gibbererllin đến khả năng tái sinh chồi cây Bình Vôi

4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng tái sinh chồi cây Bình Vôi từ đoạn thân mang chồi ngủ

4.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA kết hợp với GA3 đến khả năng tái sinh chồi cây Bình Vôi từ đoạn thân mang chồi ngủ

4.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số cytokinine đến khả năng nhân nhanh chồi cây Bình Vôi

4.6. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanh chồi cây Bình Vôi

4.7. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Kinetine đến khả năng nhân nhanh chồi cây Bình Vôi

4.8. Nghiên cứu ảnh hưởng một số Auxin đến khả năng ra rễ của cây Bình Vôi

4.9. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra rễ cây Bình Vôi

4.10. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ cây Bình Vôi

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu nhân giống cây bình vôi Stephania Rotunda Lour bằng phương pháp in vitro

Nghiên cứu này tập trung vào việc nhân giống cây bình vôi (Stephania Rotunda Lour) thông qua phương pháp in vitro, một kỹ thuật tiên tiến trong công nghệ sinh học thực vật. Mục tiêu chính là bảo tồn và phát triển loài cây dược liệu quý này, đặc biệt trong bối cảnh nguồn tài nguyên tự nhiên đang dần cạn kiệt. Stephania Rotunda Lour là một loài thực vật có giá trị dược liệu cao, chứa các hoạt chất như rotundin, có tác dụng an thần và giảm đau. Phương pháp in vitro được lựa chọn nhờ khả năng tạo ra số lượng lớn cây giống đồng đều và sạch bệnh trong thời gian ngắn.

1.1. Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của các yếu tố như nồng độ chất khử trùng và chất kích thích sinh trưởng đến quá trình nuôi cấy môtái sinh chồi của cây bình vôi. Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học lớn, cung cấp dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về sinh sản thực vậtbảo tồn giống cây. Đồng thời, nó mang lại giá trị thực tiễn trong việc nhân nhanh số lượng cây giống, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho ngành y dược và góp phần bảo tồn loài cây quý hiếm này.

II. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật, bao gồm các giai đoạn chuẩn bị mẫu, tái sinh chồi, nhân nhanh chồi, và tạo cây hoàn chỉnh. Phương pháp in vitro được áp dụng để tối ưu hóa quá trình nhân giống, sử dụng các chất kích thích sinh trưởng như BA, GA3, và NAA. Các thí nghiệm được thiết kế để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố này đến khả năng tái sinh và ra rễ của cây bình vôi.

2.1. Quy trình nuôi cấy in vitro

Quy trình nuôi cấy bao gồm các bước: khử trùng mẫu, tái sinh chồi từ đoạn thân mang chồi ngủ, nhân nhanh chồi, và kích thích ra rễ. Các môi trường nuôi cấy được bổ sung các chất kích thích sinh trưởng như BA và GA3 để tối ưu hóa quá trình tái sinh. Kết quả cho thấy, nồng độ BA 1.0 mg/l kết hợp với GA3 0.5 mg/l mang lại hiệu quả cao nhất trong việc tái sinh chồi.

2.2. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng như BA, Kinetine, và NAA đến quá trình nhân giống. Kết quả cho thấy, BA có tác dụng mạnh trong việc kích thích tái sinh chồi, trong khi NAA và IBA hiệu quả trong việc kích thích ra rễ. Các thí nghiệm cũng chỉ ra rằng, việc kết hợp các chất kích thích sinh trưởng có thể tăng hiệu quả nhân giống.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp in vitro có thể tạo ra số lượng lớn cây bình vôi đồng đều và sạch bệnh. Các cây giống được tạo ra có khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, mở ra tiềm năng lớn trong việc trồng trọt và bảo tồn loài cây này. Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về cây dược liệukỹ thuật nuôi cấy mô.

3.1. Giá trị ứng dụng trong y dược

Cây bình vôi được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và hiện đại nhờ các hoạt chất như rotundin và cepharanthin. Việc nhân giống thành công bằng phương pháp in vitro sẽ đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho ngành dược, đồng thời góp phần bảo tồn loài cây quý hiếm này.

3.2. Triển vọng trong bảo tồn và phát triển

Nghiên cứu này mở ra triển vọng lớn trong việc bảo tồn và phát triển cây bình vôi, đặc biệt trong bối cảnh nguồn tài nguyên tự nhiên đang suy giảm. Phương pháp in vitro không chỉ giúp nhân nhanh số lượng cây giống mà còn đảm bảo chất lượng và độ đồng đều, góp phần phát triển bền vững loài cây này.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên khả năng nhân giống cây bình vôi stephania rotunda lour bằng phương pháp in vitro

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề PGS, TS Lê Xuân Cảnh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) cho biết: năm 1992, trung tâm giám sát bảo tồn thế giới xếp Việt Nam là một trong 16 quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất thế giới. Theo số liệu báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học (năm 2011) cho thấy, tại Việt Nam ghi nhận đƣợc khoảng hơn 49 nghìn loài sinh vật, bao gồm: khoảng 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20 nghìn loài thực vật trên cạn và dƣới nƣớc; 10.500 loài động vật trên cạn; hơn 11 nghìn sinh vật biển. Nguồn dƣợc liệu của Việt Nam cũng rất phong phú, đa dạng và đƣợc sử dụng rộng rãi trong cộng đồng để chữa trị nhiều bệnh khác nhau. Theo kết quả điều tra nguồn tài nguyên dƣợc liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005 của Viện dƣợc liệu (2006) cho biết Việt Nam có khoảng 3.948 loài thực vật bậc cao, bậc thấp và nấm lớn đƣợc dùng làm thuốc [45].

Một trong số cây thuốc đƣợc sử dụng nhiều là cây Bình Vôi. Trong củ Bình Vôi có chứa alkaloid bao gồm L-tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin, cycleanin. Ngoài ra còn có tinh bột, đƣờng khử oxygen, acid malic, men oxydase [22]. Trong đó quan trọng nhất là L- tetrahydropalmatin (rotundin) và roemerin và cepharanthin.

Rotundin có tác dụng giảm đau, an thần, gây ngủ rất hiệu quả, điều hòa hô hấp và điều hòa tốt đối với tim mạch [12]. Hàm lƣợng hoạt chất này có trong củ Bình Vôi tƣơi khoảng 0,12 – 0,3%. Roemerin có tác dụng gây tê niêm mạc, giãn mạch, hạ huyết áp. Cepharanthin đƣợc coi là một chất có tác dụng kích thích miễn dịch và làm giảm nhẹ một cách hữu hiệu những tác dụng phụ của các thuốc chống ung thƣ.

Ngoài ra, Bun Sok-Siya và cs (2009) đã chiết xuất cepharanthin có tác dụng ức chế 2 dòng tế bào ung thƣ đại trực tràng và ung thƣ gan [40]. Mặt khác, còn ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao. Ngoài công dụng điều trị bệnh, củ Bình Vôi còn dùng làm vật trang trí đẹp và đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng [5]. n 2 Ở Việt Nam củ Bình Vôi đƣợc tìm thấy ở những vùng có núi đá nhƣ: Hà Giang, Tuyên Quang, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nam, Hải Phòng, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thanh Hóa.

Tuy nhiên giá trị dƣợc liệu của củ Bình vôi lại phụ thuộc rất nhiều vào vùng phân bố và điều kiện sinh thái. Hiện nay, nguồn củ Bình vôi chủ yếu đƣợc khai thác từ tự nhiên mà ít có các nghiên cứu về trồng trọt và nhân giống. Bình vôi nhân giống bằng hạt đƣợc tạo ra từ quá trình thụ phấn giữa hoa đực và hoa cái [5]. Tuy nhiên cây cho hoa đực và cây cho hoa cái nằm khác gốc vì vậy việc thụ phấn gặp nhiều khó khăn [46].

Với phƣơng pháp cắt phần củ thành từng mảnh đem trồng không đem lại hiệu quả cao do điều kiện thời tiết nóng ẩm mƣa nhiều của nƣớc ta, vi sinh vật hoạt động mạnh dẫn đến thối củ. Vì vậy hiện nay củ Bình vôi đang rất khan hiếm trong tự nhiên và đã đƣợc đƣa vào danh mục cần bảo tồn. Theo Nghị định số 32/2006, NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ, trong danh mục “Thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm” thì các loài Bình vôi (Stephania sp.) đƣợc xếp trong nhóm IIA (Thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại) [5]. Phƣơng pháp nhân giống in vitro với những ƣu điểm là tạo ra những giống cây trồng sạch bệnh, chất lƣợng tốt, đồng đều và hệ số nhân lớn trong thời gian ngắn.

Nhận thức đƣợc việc bảo tồn và phát triển loài cây thuốc quý tiềm năng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng nhân giống cây Bình Vôi (Stephania rotunda Lour) bằng phương pháp in vitro”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu đề tài - Xác định đƣợc ảnh hƣởng nồng độ và thời gian khử trùng của chất khử trùng dến khả năng tạo vật liệu vô trùng trong nuôi cấy cây Bình Vôi bằng phƣơng pháp in vitro. - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của một số chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng tái sinh, nhân nhanh chồi, ra rễ từ đoạn thân mang chồi ngủ cây Bình Vôi bằng phƣơng pháp in vitro.

Yêu cầu đề tài - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của nồng độ, thời gian chất khử trùng HgCl2 đến khả năng tạo vật liệu vô trùng cho nuôi cấy in vtiro. - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của một số chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng tái sinh chồi cây Bình Vôi. - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của một số chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng nhân nhanh chồi cây Bình Vôi. - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của một số chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng ra rễ cây Bình Vôi.

Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học: + Quá trình nghiên cứu sẽ đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của một số chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng tái sinh, nhân nhanh chồi và ra rễ từ đoạn thân mang chồi ngủ của cây Bình Vôi. + Cung cấp tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho sinh viên, giúp sinh viên hoàn thiện cả về kiến thức lý thuyết lẫn thực tiễn. Ý nghĩa trong thực tiễn: Góp phần nhân nhanh tạo số lƣợng lớn cây giống phục vụ mục tiêu bảo tồn loài dƣợc liệu quý theo Nghị định số 32/2006, NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ, đảm bảo nguồn nguyên liệu chất lƣợng cung cấp cho ngành y dƣợc.

n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về chi Bình vôi 2. Nguồn gốc Chi Bình vôi (Stephania) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) có nguồn gốc ở miền Đông, Nam Châu Á và Australia [16]. Ở Việt Nam, cây mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi.

Phân loại Chi Bảng 2.1: Phân loại khoa học Chi Bình vôi (Stephania spp) [2] Giới (regnum) Plantae Ngành Magloliophyta Phân lớp Magloliosida (Dicotyedones) Bộ (ordo) Ranunculales Họ (familia) Menispermaceae Chi (genus) Stephania Loài (Species) Rotunda Chi Bình Vôi hay chi Thiên kim đằng (danh pháp khoa học: Stephania spp, đồng nghĩa: Perichasma) là một chi thực vật có hoa trong họ Biển bức cát (Menispermaceae hay còn gọi là họ Tiết dê). Một số loài công bố ở Việt Nam: Stephania glabra (Roxb) Miers, S. Trên thế giới, chi Bình vôi có hơn 40 loài. Ở Việt Nam, chi Bình vôi có 13 loài với 4 loài đã có tên trong “Sách đỏ Việt Nam” [20].

Đặc điểm hình thái và phân bố Bình vôi là tên gọi của nhiều loài cây là dây leo có rễ củ thuộc chi Stephania, họ Tiết dê (Menispermaceae). Ở Việt Nam còn có các tên gọi khác nhƣ là: cây củ một, củ mối tròn, dây mối trơn, củ gà ấp,… n 5 Hình 2.1: Cây Bình Vôi (Stephania rotunda Lour) Bình vôi là cây mọc hoang dại, thích hợp ở nhiệt độ trung běnh năm 21-230C, lƣợng mƣa 2000 – 2500 mm, ƣa đất nhiều mùn, thoát nƣớc, độ pH = 6,5-7. Các loại Bình vôi có đặc điểm chung nhƣ sau: dây leo, thân nhẵn hơi xoắn vặn, thƣờng xanh, sống lâu năm. Rễ củ đa dạng, có thể rất to và nặng tới gần 20kg, vỏ ngoài xù xì màu nâu - nâu đen.

Lá mọc so le, cuống lá dài, đính vào trong phiến lá khoảng 1/3; phiến lá mỏng, hình tim, gần hình tròn, có cạnh hoặc tam giác tròn, hai mặt nhẵn; gân lá xuất phát từ chỗ đính của cuống lá, nổi rõ ở mặt dƣới lá. Cụm hoa hình xim tán mọc ở kẽ lá hoặc những cành già đã rụng lá; hoa đực và hoa cái khác gốc, hoa đực có 6 lá đài xếp thành hai vòng, 3 cánh hoa màu vàng cam; nhị: 2-6, thƣờng là 4; hoa cái có 1 lá đài, 2 cánh hoa; bầu hình trứng. Quả hạch hơi dẹt, mọng nƣớc màu đỏ hoặc da cam; hạt cứng, hình móng ngựa, hình trứng hoặc gần tròn mang 4 hàng vân dạng gai, hai mặt bên lõm ở giữa có lỗ thủng hoặc không. Mùa hoa: tháng 4-6; mùa quả: tháng 8-10 [11],[26].

Đặc điểm hình thái của một số loài Bình vôi [26], [43]: Củ Bình vôi (Stephania rotunda Lour): Dây leo có rễ củ vùi dƣới đất một nửa giống hình củ bình vôi, ruột màu vàng, thơm. Lá hình khiên, mọc cách. Phổ biến ở các rừng thƣa Phú Thọ, Vĩnh Yên, Ninh Bình,… Stephania pierrei Diels: Ngọn non có nhiều chấm màu tím hồng. Lá có kích thƣớc nhỏ hơn tất cả các loài khác.

Hoa đực không có cánh hoa. Tsoong: Cành non và cuống lá có dịch màu trắng hoặc vàng nhạt. cambodia Gagnep: Cuống cụm hoa và cuống tán giả dài hơn so với các loài khác.Wu: Nửa cuống lá phía đính vào phiến lá và gân lá mặt sau có màu tím hay tím hồng.Lo: Cuống lá rất dài, có khi đến 14cm, giá noãn có lỗ lệch một bên. cepharantha Hay: Giá noãn không có lỗ.

sinica Diels: Giá noãn không có lỗ.Lo et Yang: Lá có phiến hình tam giác, cuống lá bằng hoặc dài hơn phiến lá. Các loại Bình vôi ở nƣớc ta có diện phân bố rất rộng trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Thƣờng tập trung ở vùng núi đá vôi nhƣ Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu. Sự phân bố của mỗi loài rất khác nhau, tùy theo đặc tính sinh học.

Giá trị của cây Bình Vôi 2. Giá trị về kinh tế Cây Bình Vôi là một loại cây thuốc nam mọc tự nhiên ở một số vùng của nƣớc ta, là một loại cây dạng leo dễ trồng, phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt Nam. Nó có thể phát triển tốt khi đƣợc trồng trong đất tơi xốp, nhiều mùn, thoát nƣớc mà không cần tốn công chăm sóc hay kỹ thuật canh tác cao nhƣng lại mang giá trị kinh tế cao cho ngƣời trồng. Cây Bình Vôi đƣợc coi là cây trồng “xóa đói giảm nghèo” của ngƣời dân tộc vùng cao.

Bên cạnh đó, cây Bình Vôi còn là cây có tiềm năng lớn trong y học, là nguồn nguyên liệu cho ngành dƣợc. Tuy nhiên, trƣớc việc khai thác ồ ạt của ngƣời dân thì loại cây quý này đang dần cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên. Giá trị về dược liệu n 7 Cây Bình Vôi thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), là cây chứa nhiều hoạt chất có giá trị về dƣợc liệu. Cây bình vôi có tác dụng thanh nhiệt, giải độc.

hoạt chất đƣợc các nhà khoa học quan tâm và chiết suất nhiều từ cây bình vôi là rotundin - một hoạt chất rất cần trong y học. Nhiều thí nghiệm lâm sàng trên chuột cống trắng cho thấy Bình Vôi có tác dụng an thần, gây ngủ. Theo kinh nghiệm trong y học cổ truyền Bình Vôi đƣợc dùng dƣới dạng thuốc sắc hay ngâm rƣợu để chữa bệnh mất ngủ, ho hen, kiết lỵ, sốt, đau bụng,… Liều dùng: 3 - 6 g/ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu nhân giống cây bình vôi Stephania Rotunda Lour bằng phương pháp in vitro là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng công nghệ in vitro để nhân giống loài cây dược liệu quý này. Phương pháp này không chỉ giúp tăng tốc độ nhân giống mà còn đảm bảo chất lượng cây con đồng đều, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen cây bình vôi. Đây là một hướng nghiên cứu tiềm năng, đặc biệt trong lĩnh vực dược liệu và công nghệ sinh học, mang lại lợi ích lớn cho ngành y học cổ truyền và nông nghiệp bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp nhân giống in vitro, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định tên khoa học quy trình nhân giống in vitro và hoạt tính sinh học của tinh dầu cây gừng bản địa ở Bắc Kạn gừng đá, một nghiên cứu chi tiết về ứng dụng in vitro trong nhân giống cây dược liệu. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp công nghệ sinh học nhân nhanh và tạo cây hoàn chỉnh cây trầu bà thanh xuân in vitro Philodendron bipinnatifidum cũng cung cấp góc nhìn thú vị về quy trình nhân giống in vitro trên các loài cây khác. Các tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tiềm năng và ứng dụng đa dạng của công nghệ in vitro trong lĩnh vực sinh học.